Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯNG HÀ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2025/HS-ST

Ngày 01 - 4 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Bình và ông Đinh Trọng Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Doãn Thị Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn M, sinh ngày 19 tháng 9 năm 1950 tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T và bà Hà Thị P (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị T1 và có 04 con; nhân thân: Ngày 26/5/2016, bị Công an huyện H, tỉnh Thái Bình xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền tại Quyết định số 05476/QĐ-XPHC, đã nộp phạt xong ngày 30/5/2018. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

2. Đoàn Văn H, sinh ngày 10 tháng 3 năm 1976 tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đoàn Văn T2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ; có vợ là Nguyễn Thị L và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

* Người làm chứng:

  • - Bà Đặng Thị X, sinh năm 1966; (vắng mặt)
  • - Anh Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1983; (vắng mặt)
  • - Anh Nguyễn Trung K, sinh năm 1983; (vắng mặt)

Đều trú tại: Thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 30 phút, ngày 06 tháng 01 năm 2025, khi bị cáo Nguyễn Văn M đang có hành vi bán số lô, số đề cho Nguyễn Trung K thì bị tổ công tác Công an xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình kiểm tra, phát hiện, thu giữ quản lý của K 02 mảnh giấy ghi chữ số (cáp đề), thu giữ của Mừng 02 tờ lịch ghi chữ số (bảng số lô, số đề). Công an xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình đã tiến hành lập biên bản vụ việc trước sự chứng kiến của những người làm chứng. Quá trình điều tra, xác định vào các ngày 05 và ngày 06 tháng 01 năm 2025, tại chỗ ở của Nguyễn Văn M tại thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình, bị cáo M có hành vi mua, bán số lô, số đề được thua bằng tiền cho bị cáo Đoàn Văn H và những người khác (không xác định được tên, tuổi, địa chỉ).

Những chơi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề quy định việc thắng, thua sẽ căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng trong ngày và sẽ thanh toán, trả thưởng vào ngày hôm sau. Trúng thưởng số đề khi có 02 số trùng với 02 số cuối cùng của giải đặc biệt, tỷ lệ trả thưởng 1x80 (mua 1.000 đồng khi trúng thưởng sẽ được trả 80.000 đồng). Trúng thưởng số đề ba càng khi có 03 số trùng với 03 số cuối cùng của giải đặc biệt, tỷ lệ trả thưởng 1x400 (mua 1.000 đồng khi trúng thưởng sẽ được trả 400.000 đồng). Trúng thưởng số lô khi có 02 số cuối trùng với 02 số cuối cùng của tất cả 27 giải thưởng (01 điểm lô tương ứng với số tiền 23.000 đồng, khi trúng thưởng sẽ được trả 80.000 đồng).

Các bị cáo đã mua bán số lô, số đề cụ thể như sau:

- Ngày 05 tháng 01 năm 2025, bị cáo Nguyễn Văn M đã bán cho bị cáo Đoàn Văn H các số lô, số đề như sau: Các số lô gồm số 64, 85, 58, 18, 81, 51, 01, 13, 31, mỗi số 10 điểm, tổng bằng 90 điểm tương ứng với số tiền 2.070.000 đồng. Các số đề gồm số 64, 85, 58, 18, 81, 51, 01, 13, 31, mỗi số 20 điểm, tổng bằng 180 điểm tương ứng với số tiền 180.000 đồng. Đối chiếu với kết quả xổ số Miền Bắc cùng ngày H trúng số lô 51, 85, 18, 81, 13 và số 58 trúng hai lần, tương ứng với số tiền 5.600.000 đồng, trúng số đề 51, tương ứng với số tiền 1.600.000 đồng, M và H đã thanh toán cho nhau xong. Xác định số tiền M và H đánh bạc với nhau ngày 05 tháng 01 năm 2025 là 9.450.000 đồng. Ngoài ra, trong ngày 05 tháng 01 năm 2025 bị cáo M còn bán các số lô khác tổng là 45 điểm lô, tương ứng với số tiền 1.035.000 đồng; bán các số đề tổng là 933 điểm, tương ứng với số tiền 933.000 đồng, bán các số ba càng tổng là 55 điểm, tương ứng với số tiền là 55.000 đồng cho những người khác (không xác định được tên, tuổi, địa chỉ). Đối chiếu với kết quả xổ số Miền Bắc cùng ngày, trúng số đề 51, tương ứng với số tiền là 560.000 đồng. Mừng và những người này đã thanh toán tiền cho nhau xong, nên xác định ngoài số tiền đánh bạc với bị cáo H, số tiền M đánh bạc với những người khác là 2.583.000 đồng. Như vậy, trong ngày 05 tháng 01 năm 2025, tổng số tiền M đánh bạc là 12.033.000 đồng, tổng số tiền Hinh đánh bạc là 9.450.000 đồng.

- Ngày 06/01/2025, tại chỗ ở của mình ở thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình, bị cáo M có hành vi bán số lô, số đề với tổng số tiền là 3.710.000 đồng, cụ thể: Mừng bán cho Đoàn Văn H 90 điểm lô tương ứng số tiền 2.070.000 đồng, số đề tương ứng số tiền 20.000 đồng; tổng số M và H đánh bạc là 2.090.000 đồng. Mừng bán cho Nguyễn Trung K các số đề tương ứng số tiền 60.000 đồng; tổng số tiền M và K đánh bạc là 60.000 đồng. Mừng bán cho Nguyễn Ngọc S 5 điểm tương ứng với số tiền là 115.000 đồng, các số đề tương ứng với số tiền 35.000 đồng; tổng số tiền M và S đánh bạc là 150.000 đồng. Mừng bán số đề cho một số người khác (không xác định được tên tuổi, địa chỉ) với tổng số tiền là 1.410.000 đồng. Hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức mua số lô, số đề của Nguyễn Văn M, Đoàn Văn H, Nguyễn Ngọc S và anh Nguyễn Trung K, số tiền đánh bạc đều dưới 5.000.000 đồng, những người trên chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc và chưa đủ bị xử lý về hình sự về các tội quy định tại các Điều 321, 322 Bộ luật Hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H quyết định xử phạt vi phạm hành chính, hình thức phạt tiền đối với Nguyễn Văn M, Đoàn Văn H, Nguyễn Ngọc S và anh Nguyễn Trung K về hành vi Đánh bạc.

Cáo trạng số 43/CT-VKSVT ngày 05 tháng 03 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn M và Đoàn Văn H tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu; đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn M và Đoàn Văn H phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, Điều 17, Điều 50; điểm o, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 65, Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo M từ 5 triệu đồng đến 7 triệu đồng để sung Ngân sách Nhà nước.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, Điều 17, Điều 50; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 65, Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đoàn Văn H mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo M từ 5 triệu đồng đến 7 triệu đồng để sung Ngân sách Nhà nước.

Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Truy thu của bị cáo M số tiền 4.273.000 đồng là tiền bán số lô, số đề; truy thu của bị cáo Đoàn Văn H số tiền 7.200.000 đồng là tiền trúng số lô, số đề.

Bị cáo Đoàn Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn M.

Các bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã truy tố, không tranh luận gì.

Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, các bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo mức án nhẹ nhất và xin được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không ai không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ kết tội các bị cáo: Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với: Biên bản vụ việc do Công an xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình lập hồi 17 giờ 45 ngày 06 tháng 01 năm 2025; Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu; Biên bản kiểm tra điện thoại điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A04, có số seri R92U308GU3X màu đen bên trong không lắp sim; điện thoại bàn phím nhãn hiệu Masstel bên trong lắp sim có số thuê bao 0374038424 và 02 tờ lịch kích thước 10x20cm mặt sau có ghi nhiều con số của Nguyễn Văn M; 02 tờ giấy kích thước 4x6cm (cáp đề) của Nguyễn T3; Biên bản xác minh kết quả xổ số Miền Bắc (ngày 05 tháng 01 năm 2025) do Công an xã T lập ngày 07 tháng 01 tháng 2025 tại Công ty X1 chi nhánh huyện H, tỉnh Thái Bình; Lời khai của người làm chứng bà Đặng Thị X, anh Nguyễn Ngọc S, anh Nguyễn Trung K và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 05 tháng 01 năm 2025, tại thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Văn M có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức bán số lô, số đề, ba càng cho Đoàn Văn H và một số người không rõ họ, tên, tuổi, địa chỉ với tổng số tiền là 12.033.000 đồng. Đoàn Văn H có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức mua số lô, số đề của Nguyễn Văn M với tổng số tiền là 9.450.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Điều 321. Tội đánh bạc:

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

...

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội, thấy: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội, đi ngược với thuần phong mỹ tục của dân tộc ta. Hiện nay, đánh bạc là tệ nạn xã hội đang có chiều hướng gia tăng, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tính chất, mức độ, hậu quả do mình thực hiện nhưng chỉ vì ham muốn vật chất nhất thời mà các bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm.

[4] Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Bị cáo Nguyễn Văn M là người trực tiếp bán số lô, số đề cho Đoàn Văn H và một số người khác nên cần đánh giá vai trò của bị cáo M cao hơn của bị cáo H.

[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn M thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là người đủ 70 tuổi trở lên, có bố đẻ là ông Nguyễn Văn T được tặng H1, Huy chương kháng chiến nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm o, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đoàn Văn H thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt:

Các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có khả năng tự cải tạo ngoài xã hội nên không nhất thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do vậy cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách phù hợp cũng đủ có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”. Các bị cáo đánh bạc dưới hình thức mua, bán số lô, số đề là vì lợi ích vật chất để thu lời bất chính. Vì vậy cần áp dụng khoản 3 Điều 321; khoản 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự phạt tiền đối với các bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo đều có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bị cáo M là người cao tuổi, thường xuyên đau ốm; bị cáo H có con bị khuyết tật nặng, là lao động chính trong gia đình nên phạt tiền đối với các bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Phạt tiền bị cáo M 7.000.000 đồng, bị cáo H 5.000.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước là phù hợp.

[6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Galaxy A04, có số seri R92U308GU3X màu đen bên trong không lắp sim; 01 điện thoại bàn phím nhãn hiệu Masstel bên trong lắp sim có số thuê bao 0374038424 thu giữ của Nguyễn Văn M không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại cho bị cáo M là có căn cứ. Đối với số tiền 4.273.00 đồng là tiền bị cáo M đánh bạc (bán số lô, số đề); số tiền 7.200.000 đồng là tiền bị cáo H trúng số lô, số đề xác định đều là tiền do bị cáo phạm tội mà có, do vậy phải buộc các bị cáo nộp lại để sung ngân sách Nhà nước.

[7] Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với hành vi đánh bạc ngày 06/01/2025 của Nguyễn Văn M, Đoàn Văn H, Nguyễn Ngọc S và Nguyễn Trung K, do số tiền đánh bạc đều dưới 5.000.000 đồng, những người trên chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc nên chưa đủ bị xử lý hình sự về các tội quy định tại các Điều 321, 322 Bộ luật Hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H quyết định xử phạt vi phạm hành chính, hình thức phạt tiền đối với Nguyễn Văn M, Đoàn Văn H, Nguyễn Ngọc S và anh Nguyễn Trung K về hành vi Đánh bạc là có căn cứ.

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn M là người cao tuổi nên miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo M. Bị cáo Đoàn Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn M và Đoàn Văn H phạm tội “Đánh bạc".

2. Về hình phạt:

2.1. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm o, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 50, Điều 38, Điều 65, Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 01 tháng 4 năm 2025).

Phạt tiền bị cáo M 7.000.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước.

2.2 Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58; Điều 50, Điều 38, Điều 65, Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đoàn Văn H 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 01 tháng 4 năm 2025).

Phạt tiền bị cáo H 5.000.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước.

Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, tuyên xử: Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải nộp lại số tiền 4.273.000 đồng là tiền bán số lô, số đề; bị cáo Đoàn Văn H phải nộp lại số tiền 7.200.000 đồng là tiền trúng số lô, số đề để sung Ngân sách Nhà nước.

4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135; Điều 136, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn M được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Đoàn Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo Nguyễn Văn M, Đoàn Văn H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 01 tháng 4 năm 2025).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - VKS nhân dân huyện Hưng Hà;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu HCTP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2025/HS-ST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự - tội đánh bạc

  • Số bản án: 40/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn M và Đoàn Văn H có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức mua bán số lô, số đề
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger