|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 40/2025/HS-ST Ngày 25-3-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Thế Đông.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Cao Đức Khoa
Ông Võ Trung Thành
- Thư ký phiên toà:
+ Tại điểm cầu trung tâm: Bà Phạm Thị Nguyên, Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Tại điểm cầu thành phần: Bà Phạm Thị Phương T, Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 tham gia phiên tòa:
Tại điểm cầu trung tâm: Ông Phạm Hoàng Hải - Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần: Ông Phạm Hoàng H – Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 46/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Huỳnh Thanh B, sinh ngày 21 tháng 01 năm 1991 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A Â, Phường C, Quận H, Tp .; chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn H1 và bà Châu Ngọc V; có vợ và 01 con; tiền án: Ngày 19/11/2019, bị Tòa án nhân dân Quận 8, Tp . xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 171/2019/HS-ST. Ngày 13/3/2020, bị Tòa án nhân dân Quận 5, Tp . xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung của hai bản án là 05 năm 06 tháng tù theo Bản án số 29/2020/HS-ST. Chấp hành xong án phạt tù và được tha vào ngày 18/02/2024, chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 31/7/2007, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xử phạt 01 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù, được tha vào ngày 05/02/2008 đã được xóa án tích do thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi. Ngày 06/4/2012, bị Công an P1, Quận H lập hồ sơ đưa đi cai nghiện ma túy. Ngày 20/4/2012, Ủy ban nhân dân Quận H4 ra Quyết định số 3414/QĐ-UBND về việc đưa người vào Cơ sở chữa bệnh tại Trung tâm C, thời gian cai nghiện bắt buộc là 24 tháng, đã xóa tiền sự. Ngày 10/12/2014, bị Tòa án nhân dân Quận 8, Tp. xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án 276/2014/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù và được tha vào ngày 21/11/2015, đã xóa án tích. Ngày 17/11/2016 bị Tòa án nhân dân Quận 8, Tp. ra Quyết định số 562/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy P2. Ngày 17/7/2017, Trung tâm G ra Giấy chứng nhận số 485/GCN-GD về việc chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đã xóa tiền sự.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 05/11/2024 cho đến nay. (Có mặt)
2. Mai Văn H2, sinh ngày 10 tháng 01 năm 1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A T, Phường A, Quận C, Tp .; chỗ ở hiện nay: Phòng 18, số B T, Phường A, Quận C, Tp .; nghề nghiệp: Nhân viên phục vụ; trình độ học vấn: 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn T1 và bà Trần Thị Kim L; chưa có vợ và con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 05/11/2024 cho đến nay. (Có mặt)
- Bị hại: Công ty TNHH V1; trụ sở: 1 N, phường C, Quận A, Tp ..
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Hồ Thị Kim P, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. (Theo văn bản ủy quyền ngày 16/10/2024) (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Mai Thị Thu H3, sinh năm 1992; địa chỉ: 1 T, Phường A, Quận C, Tp .. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ ngày 15/10/2024, Huỳnh Thanh B thuê Phòng số 705 Khách sạn T2 (địa điểm kinh doanh của Công ty TNHH V1) để lưu trú. Đến khoảng 07 giờ 30 phút ngày 16/10/2024, do không có việc làm ổn định và cần tiền tiêu xài cá nhân nên B nảy sinh ý định tháo rời các linh kiện điện tử gắn bên trong ti vi và tủ lạnh trong phòng mang đi bán lấy tiền tiêu xài; B gọi điện thoại cho Mai Văn H2 và nói mang theo một ba lô đến phòng 705, Khách sạn T2 để gặp B, H2 đồng ý. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, H2 điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 59F2- 463.98 mang theo một ba lô đến Phòng 705 gặp B, B bàn bạc với Hoàng tháo rời các linh kiện điện tử gắn bên trong ti vi hiệu Casper 43FGA610 và tủ lạnh hiệu Homesun 36L, Model BCH-36B để bán lấy tiền tiêu xài, H2 đồng ý. Sau đó, B và H2 dùng tuốc nơ vít mở và tháo rời những linh kiện điện tử của ti vi gồm 01 bản mạch chính, 02 cái loa, 02 thanh tab màn hình; của tủ lạnh gồm: 01 tấm làm lạnh, 01 mạch chính, 01 dàn tản nhiệt. Sau khi chiếm đoạt được các linh kiện điện tử, B nói với H2 bỏ những linh kiện điện tử vào ba lô của H2 và rời khỏi khách sạn. Đến ngày 18/10/2024, B điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 59F2-463.98 chở H2 mang số linh kiện vừa chiếm đoạt được đến chợ N, Quận A để bán nhưng không bán được nên cả hai mang số linh kiện về nhà trọ của H2 tại địa chỉ Phòng 18, số B T, Phường A, Quận C để cất giấu. Cũng vào ngày 15/10/2024, sau khi kiểm tra phòng 705 tại Khách sạn T2 - C, chị Hồ Thị Kim P (quản lý khách sạn) và nhân viên kỹ thuật kiểm tra xác nhận bị mất linh kiện điện tử trên nên chị Hồ Thị Kim P đến Công an Phường P, Quận A trình báo vụ việc.
Qua điều tra xác định Huỳnh Thanh B và Mai Văn H2 là người thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đưa B và H2 về trụ sở làm rõ.
Theo Kết luận định giá tài sản số 175/KL-HĐĐGTS ngày 31/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 bản mạch chính tivi ký hiệu TPD.RT2841A.PB756 (T) trị giá 800.000 đồng: 02 loa tivi, loa phải ký hiệu VT1006962 10WYDT35170-A1-L 2204305, loa trái VT1006962 10WYDT35170A1 R2204215 trị giá 160.000 đồng; 02 thanh tab đèn màn hình tivi ký hiệu HV 430FHB F90 trị giá 300.000 đồng; 01 bản mạch chính tủ lạnh ký hiệu F3230391 trị giá 1.000.000 đồng; 01 tấm làm lạnh tủ lạnh trị giá 200.000 đồng; 01 dàn tản nhiệt tủ lạnh trị giá 250.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 2.710.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Huỳnh Thanh B và Mai Văn H2 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của B và H2 phù hợp với biên bản lấy lời khai, kết quả nhận dạng, đối chất, thực nghiệm điều tra, xác nhận bản ảnh cùng vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ Cơ quan điều tra thu thập được.
* Vật chứng vụ án:
- - 01 USB ghi nhận hình ảnh vụ việc, lưu kèm hồ sơ vụ án;
- - 01 bản mạch chính (tủ lạnh) được in ký hiệu: F3230391; 01 tấm làm lạnh; 01 dàn tản nhiệt;
- - 01 bản mạch chính (tivi) được in ký hiệu: TPD.RT2841A.PB756 (T); 02 loa tivi được ký hiệu: Loa phải (VT1006962 10W-YDT35170-A1- L2204305). Loa trái (VT1006962 10W-YDT35170-A1-R 2204215); 02 (hai) thanh tab đèn màn hình được ký hiệu: HV430FHB - F90;
- - 01 tuốc nơ vít cán nhựa màu trắng xanh thân thép dài khoảng 24cm;
- - 01 balo màu đen có hình hoa văn ghi chữ Lacoste;
- - 01 xe mô tô hiệu Honda Wave A, màu đen, biển số 59F2-463.98, số khung: RLHJA3927PY732550, số máy: JA39E3167740. Qua xác minh do Mai Thị Thu H3 (chị ruột của Mai Văn H2) đứng tên đăng ký chủ xe. H3 khai cho H2 mượn xe mô tô trên làm phương tiện đi lại, H3 không biết H2 sử dụng xe mô tô trên để đi trộm cắp tài sản. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại xe mô tô trên cho H3.
Thu giữ của Huỳnh Thanh B:
- - 01 điện thoại di động hiệu NOKIA 216 màu đen số seri 1: 357307083511384; số seri2: 357307083511392;
- - 01 quần Jean dài màu đen; 01 áo sơ mi tay dài màu xám xanh, 01 nón lưỡi trai màu đen; 01 áo khoác tay dài màu đen; 01 túi đeo chéo màu nâu, 01 đôi dép kẹp màu đen; 01 nón bảo hiểm màu đen có in hình ngôi sao màu bạc, là trang phục B mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
Thu giữ của Mai Văn H2:
- - 01 điện thoại di động hiệu NOKIA 105 số seri 1: 355774109269408;
- - 01 áo khoác tay dài màu đen có chữ Adidas; 01 áo thun màu đen; 01 quần jean dài màu xanh; 01 đôi dép màu đen có ghi chữ Asia, là trang phục Hoàng mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
Tất cả các vật chứng trên hiện đang được tạm giữ tại Đội Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ Tư pháp Công an Quận Q theo Phiếu nhập kho vật chứng số 09/2025/PNK-THAHS ngày 24/12/2024.
Tại bản Cáo trạng số 46/CT-VKS-Q1 ngày 11 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố: bị cáo Huỳnh Thanh B và bị cáo Mai Văn H2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Hồ Thị Kim P đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH V1 (khách sạn T2) yêu cầu Huỳnh Thanh B và Mai Văn H2 khôi phục lại tình trạng ban đầu của chiếc ti vi và tủ lạnh hoặc bồi thường ti vi và tủ lạnh khác có giá trị tương đương. Ngày 22/02/2025, bà P có đơn xác định gia đình B và H2 đã bồi thường 9.000.000 đồng nên Công ty TNHH V1 không yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự.
Tại phiên tòa:
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 trình bày lời luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Đối với bị cáo Huỳnh Thanh B: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b và s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo 2 năm đến 2 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản".
- + Đối với bị cáo Mai Văn H2: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo 9 tháng đến 1 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- + Về trách nhiệm dân sự: Bị hại xác nhận đã được bị cáo bồi thường.
- + Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Bà Mai Thị Thu H3 trình bày: Bà xác định không biết bị cáo H2 sử dụng xe Honda Wave A biển số 59F2-463.98 để đi trộm cắp tài sản, bà đã được nhận lại xe, không có yêu cầu gì trong vụ án.
- Bị cáo Huỳnh Thanh B trình bày: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng, không bào chữa, không tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Bị cáo Mai Văn H2 trình bày: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng, không bào chữa, không tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
- [2] Xét bị hại vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra, truy tố nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- [3] Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo, bị hại trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Vào ngày 15/10/2024, bị cáo Huỳnh Thanh B và bị cáo Mai Văn H2 lén lút tháo rời các linh kiện điện tử của ti vi và tủ lạnh tại phòng 705 Khách sạn T2, địa chỉ: A B, Phường P, Quận A để chiếm đoạt, tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 2.710.000 đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Huỳnh Thanh B và bị cáo Mai Văn H2 đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- [4] Về đồng phạm: Xét đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, trong vụ án này thì B là người rủ rê, khởi xướng, H2 là đồng phạm chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội; cả hai cùng thực hiện hành vi trộm cắp.
- [5] Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm hại quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự cho xã hội. Các bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội thể hiện ý thức xem thường pháp luật của các bị cáo. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án nghiêm khắc, tương xứng để răn đe giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để quyết định mức hình phạt phù hợp.
- [6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- [6.1] Đối với bị cáo B: Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- [6.2] Đối với bị cáo H2: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- [7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- [7.1] Đối với bị cáo B: Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm b và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- [7.2] Đối với bị cáo H2: Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm b, i và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- [8] Về nhân thân:
- [8.1] Bị cáo B là người có nhân thân xấu. Bị cáo có tiền án về 02 tội “Trộm cắp tài sản” và “Cướp giật tài sản”. Thêm vào đó, từng bị xử phạt 01 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” năm 2007, xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” năm 2014, 02 lần bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
- [8.2] Bị cáo H2 có nhân thân tốt.
- [9] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính thì bị cáo còn có thể bị hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, các bị cáo không có tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
- [10] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại xác định gia đình bị cáo B và H2 đã bồi thường 9.000.000 đồng nên không yêu cầu các bị cáo bồi thường.
- [11] Về xử lý vật chứng
- - 01 USB ghi nhận hình ảnh vụ việc, tiếp tục lưu kèm hồ sơ vụ án;
- - 01 bản mạch chính (tủ lạnh) được in ký hiệu: F3230391; 01 tấm làm lạnh; 01 dàn tản nhiệt; 01 bản mạch chính (tivi) được in ký hiệu: TPD.RT2841A.PB756 (T); 02 loa tivi được ký hiệu: Loa phải (VT1006962 10W-YDT35170-A1-R 2204215). Loa trái (VT1006962 10W-YDT35170-A1-R 2204215); 02 (hai) thanh tab đèn màn hình được ký hiệu: HV430FHB - F90. Xét đây là các tài sản của bị hại bị các bị cáo chiếm đoạt trái phép; bị hại xác định đã được bồi thường nhưng chưa có ý kiến liên quan đến việc xử lý các vật chứng này. Do đó, cần trả lại cho bị hại theo quy định tại khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- - 01 tuốc nơ vít cán nhựa màu trắng xanh thân thép dài khoảng 24cm; 01 balo màu đen có hình hoa văn ghi chữ Lacoste là công cụ các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
- - 01 điện thoại di động hiệu Nokia 216 màu đen của Huỳnh Thanh B và 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 của Mai Văn H2 là phương tiện liên lạc của các bị cáo để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
- - 01 quần jean dài màu đen; 01 áo sơ mi tay dài màu xám xanh, 01 nón lưỡi trai màu đen; 01 áo khoác tay dài màu đen; 01 túi đeo chéo màu nâu, 01 đôi dép kẹp màu đen; 01 nón bảo hiểm màu đen có in hình ngôi sao màu bạc. 01 áo khoác tay dài màu đen có chữ Adidas; 01 áo thun màu đen; 01 quần jean dài màu xanh; 01 đôi dép màu đen có ghi chữ Asia. Xét đây là trang phục mà B và Hoàng mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
- - 01 xe mô tô hiệu Honda Wave A, màu đen, biển số 59F2-463.98 là tài sản của bà Mai Thị Thu H3. Bà H3 không biết H2 sử dụng xe mô tô trên để đi trộm cắp tài sản và đã được trả lại.
- [12] Án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
- [13] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 về hình phạt và xử lý vật chứng là cơ sơ cở được chấp nhận. Tuy nhiên, đối với bị cáo H2 có 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên cần xem xét giảm nhẹ hơn cho bị cáo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b và s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 53, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh B 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 05 tháng 11 năm 2024.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i và s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Mai Văn H2 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 05 tháng 11 năm 2024.
- Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử lý vật chứng:
- - Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 USB ghi nhận hình ảnh vụ việc.
- - Trả lại Công ty TNHH V1: 01 bản mạch chính (tủ lạnh) được in ký hiệu: F3230391; 01 tấm làm lạnh; 01 dàn tản nhiệt; 01 bản mạch chính (tivi) được in ký hiệu: TPD.RT2841A.PB756 (T); 02 loa tivi được ký hiệu: Loa phải (VT1006962 10W-YDT35170-A1- L2204305). Loa trái (VT1006962 10W-YDT35170-A1-R 2204215); 02 (hai) thanh tab đèn màn hình được ký hiệu: HV430FHB - F90.
- - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu NOKIA 216 màu đen số seri 1: 357307083511384, số seri 2: 357307083511392; 01 điện thoại di động hiệu NOKIA 105, số seri 1: 355774109269408.
- - Tịch thu, tiêu hủy: 01 tuốc nơ vít cán nhựa màu trắng xanh thân thép dài khoảng 24cm; 01 balo màu đen có hình hoa văn ghi chữ Lacoste; 01 quần jean dài màu đen; 01 áo sơ mi tay dài màu xám xanh, 01 nón lưỡi trai màu đen; 01 áo khoác tay dài màu đen; 01 túi đeo chéo màu nâu, 01 đôi dép kẹp màu đen; 01 nón bảo hiểm màu đen có in hình ngôi sao màu bạc 01 áo khoác tay dài màu đen có chữ Adidas; 01 áo thun màu đen; 01 quần jean dài màu xanh; 01 đôi dép màu đen có ghi chữ Asia.
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 09/2025/PNK-THAHS ngày 24/12/2024)
- Căn cứ Điều 135; 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
+ Bị cáo Huỳnh Thanh B phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm
+ Bị cáo Mai Văn H2 phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thế Đông |
Bản án số 40/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 40/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Huỳnh Thanh B và bị cáo Mai Văn H2 lén lút tháo rời các linh kiện điện tử của ti vi và tủ lạnh tại phòng 705 Khách sạn để chiếm đoạt.
