Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 20/3/2025

V/v ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Quyên.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trần Thành Hiệp;
  2. Bà Mai Thị Thu Hà;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Châu Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên toà:

Ông Lưu Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 442/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXX-ST ngày 14 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 49/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Ong Thị N, sinh năm 1993; (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
  2. Nơi cư trú: số A, ấp V, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

    SĐT: 0336.299.xxx

  3. Bị đơn: Anh Nguyễn Thành L, sinh năm 1996; (vắng mặt)
  4. Nơi cư trú: ấp H, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.

    SĐT: 0367.124.xxx

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn chị Ong Thị N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Do tìm hiểu, chị và anh Nguyễn Thành L chung sống với nhau có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn vào năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung. Vợ chồng ly thân từ tháng 6/2024 đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn, nên chị xin được ly hôn với anh Nguyễn Thành L.

- Về quan hệ con chung: có 02 con chung: Nguyễn Văn H, sinh ngày 04/7/2014 và Nguyễn Thị Trúc P, sinh ngày 18/01/2017. Hiện cháu P đang sống với chị N, cháu H đang sống với ông bà, nội cháu. Khi ly hôn, chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Toà án đã nhiều lần triệu tập bị đơn anh Nguyễn Thành L để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, cũng như tham gia phiên toà nhưng anh L đều vắng mặt không có lý do, đồng thời cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.

+ Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân: đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Ong Thị N. Về con chung: đề nghị giao hai con chung: cháu Nguyễn Văn HNguyễn Thị Trúc P cho chị N nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị không đặt ra xem xét. Về án phí: chị N phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1.1] Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Ong Thị N khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con với bị đơn anh Nguyễn Thành L và yêu cầu nuôi con, bị đơn anh L hiện có nơi cư trú tại: ấp H, xã V, huyện C, tỉnh An Giang, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là vụ án về tranh chấp ly hôn, nuôi con và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự:

Ngày 10/3/2025, nguyên đơn chị Ong Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt được Hội đồng xét xử chấp nhận. Bị đơn anh Nguyễn Thành L đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ong Thị N thấy:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Theo nguyên đơn chị N trình bày thì chị và bị đơn anh L do tìm hiểu tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên hôn nhân của anh chị được xem là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị N trình bày do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần mở phiên hoà giải nhằm tạo điều kiện để chị N và anh L hàn gắn tình cảm, nhưng chị N vẫn kiên quyết ly hôn, anh L được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, cũng như không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, điều này chứng tỏ anh L không có nguyện vọng đoàn tụ với chị N. Chị N và anh L đã ly thân từ tháng 6/2024 đên nay, nhưng anh, chị không hàn gắn tình cảm lại được.

Tất cả điều này cho thấy hôn nhân của chị N và anh L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N.

[2.2] Về quan hệ con chung: Có 02 con chung tên: Nguyễn Văn H, sinh ngày 04/7/2014 và Nguyễn Thị Trúc P, sinh ngày 18/01/2017. Hiện cháu P đang sống với chị N, cháu H đang sống với ông bà, nội cháu.

Xét thấy, cháu P đã sống ổn định với chị N và có nguyện vọng sống với chị N; cháu H hiện đang sống với ông, bà nội là ông Nguyễn Văn T, bà Cao Ngọc B, tuy nhiên ông T, bà B đồng ý giao cháu H cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng và cháu H cũng có nguyện vọng sống với chị N. Do đó, để đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho hai cháu sau khi cha mẹ ly hôn nên căn cứ quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N, giao hai cháu H và P cho chị N trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng.

Chị N phải tạo điều kiện thuận lợi cho anh L được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc các con chung, không ai cản trở khi anh L thực hiện quyền này.

Về cấp dưỡng: Chị N không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi các con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.

[3] Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0007834 ngày 11/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ong Thị N.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Ong Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Thành L.
  2. Về quan hệ con chung: Có 02 con chung tên: Nguyễn Văn H, sinh ngày 04/7/2014 và Nguyễn Thị Trúc P, sinh ngày 18/01/2017. Giao hai con chung Nguyễn Văn HNguyễn Thị Trúc P cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
  3. Về cấp dưỡng: Anh L không phải cấp dưỡng nuôi các con chung do chị N không yêu cầu.

    Chị N cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh L thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai cháu Nguyễn Văn HNguyễn Thị Trúc P.

    Nếu người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người còn lại thì người còn lại có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng dựa trên các quy định của pháp luật.

  4. Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra xem xét. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
  5. Về án phí: Chị Ong Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0007834 ngày 11/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
  6. Về quyền kháng cáo: Chị Ong Thị N và anh Nguyễn Thành L được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Lợi;
  • - Phòng KTNV& THA;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Kim Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2025/HNGĐ-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 40/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hon
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger