|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 40/2025/HS-ST Ngày 18-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Quàng Thị Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Như
Ông Lò Việt Hưng
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Thế - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Đỗ Khải Tuấn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2025/TLST- HS ngày 03 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2025/QĐXXST- HS ngày 07 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Tòng Văn L; Sinh ngày 05/01/1984 tại huyện T, tỉnh Lai Châu;
Nơi cư trú: Bản N, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tòng Văn T, sinh năm 1962 và bà Lò Thị T1, sinh năm 1962. Bị cáo có vợ là Hà Thị P, sinh năm 1992 (đã ly hôn năm 2022) và có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 17/11/2022, Tòng Văn L bị Công an xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, số tiền 2.500.000 đồng. Bị cáo đã chấp hành xong quyết định và được xoá tiền sự.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 25/12/2024, tạm giam từ ngày 03/01/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại Tạm giam khu vực T, tỉnh Lai Châu. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 25/12/2024, Tòng Văn L đi bộ từ nhà ở bản N, xã P, huyện T đến bản N, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu mục đích tìm mua Heroine để sử dụng. Tại bản Noong Thăng, Tòng Văn L gặp một người đàn ông dân tộc Mông không rõ lai lịch. Qua nói chuyện, Tòng Văn L đã mua được của người đàn ông đó 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh nilon màu trắng) với số tiền 100.000 đồng. Mua được H, Tòng Văn L đi vào bụi cây ven đường, cấu một ít Heroine ra sử dụng bằng hình thức hít. Số Heroine còn lại, Tòng Văn L cất giấu bên trong gấu quần bên trái (đang mặc trên người) rồi đi bộ về nhà. Đến hồi 15 giờ 20 phút cùng ngày, tại bản Che Bó, xã P, huyện T, Tòng Văn L bị Tổ Công tác Công an huyện T, tỉnh Lai Châu phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, vật chứng thu giữ trong gấu quần bên trái Tòng Văn L đang mặc trên người là 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh nilon màu trắng).
Tại Bản kết luận giám định số 114 ngày 25/12/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc và bản Kết luận giám định số 94 ngày 30/12/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: số chất bột màu trắng thu giữ của Tòng Văn L có tổng khối lượng là 0,20 gam; là ma túy, loại: Heroine (Heroin) có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2017 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NDD-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Vật chứng của vụ án gồm: 0,20 gam Heroine thu giữ của Tòng Văn L, Cơ quan điều tra đã gửi toàn bộ 0,20 gam gửi giám định (không hoàn lại mẫu vật). Vật chứng còn lại gồm: 01 mảnh nilon màu trắng, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu hiện đang được lưu giữ tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
Bản cáo trạng số 18/CT-VKSTU ngày 03/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu truy tố bị cáo Tòng Văn L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều khoản áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Tòng Văn L từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu trắng, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Tòng Văn L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo nhất trí và không tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tranh tụng tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Tòng Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Kết luận điều tra, bản Cáo trạng đã truy tố và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 25/12/2024, tại bản N, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu, Tòng Văn L đã mua trái phép 01 gói Heroine từ một người đàn ông không rõ lai lịch với số tiền 100.000 đồng, mục đích để sử dụng. Đến hồi 15 giờ 20 phút cùng ngày, tại bản Che Bó, xã P, huyện T, Tòng Văn L bị lực lượng Công an huyện T, tỉnh Lai Châu phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ bên trong gấu quần bên trái Tòng Văn L đang mặc là một gói Heroine có khối lượng 0,20 gam.
Bị cáo Tòng Văn L là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi cố ý tàng trữ trái phép 0,20 gam Heroine mục đích để sử dụng của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên truy tố bị cáo về tội danh, điều khoản áp dụng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
-
Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước ta đối với các chất ma túy và làm ảnh hưởng tới trật tự, trị an, an toàn xã hội tại địa phương do vậy cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
-
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo Tòng Văn L sinh ra tại huyện T, tỉnh Lai Châu, bị cáo học hết lớp 12/12, từng là công chức cấp xã, là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, là người có hiểu biết pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo đã không chịu khó tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà mắc vào tệ nạn xã hội, nghiện chất ma tuý dẫn đến thôi việc vào 2023, bị xoá tên trong danh sách Đảng viên từ ngày 18/10/2024. Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2022 đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Tòng Văn L đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, bản thân bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập không ổn định, bị cáo không đảm nhiệm chức vụ và không có tài sản gì đáng kể do đó Hội đồng xét xử không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Đối với 0,20 gam Heroine, Cơ quan điều tra đã gửi giám định toàn bộ không hoàn lại mẫu vật nên không phải giải quyết; Đối với 01 mảnh nilon màu trắng, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu là những vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Như vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, cần thiết phải có mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục cho bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên về mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.
- Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.
-
Các vấn liên quan đến vụ án:
Về nguồn gốc H, bị cáo Tòng Văn L khai mua từ một người không rõ lai lịch tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T nên không có căn cứ để xác minh, điều tra, xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự;
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tòng Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tòng Văn L 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 25/12/2024.
-
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì bên trong đựng 01 mảnh nilon màu trắng, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo như biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 06 tháng 3 năm 2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Tòng Văn L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA ĐÃ KÝ Quàng Thị Phương |
Bản án số 40/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 40/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tòng Văn L - tàng trữ trái phép chất ma tuý Xử phạt bị cáo Tòng Văn L 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 25/12/2024.
