Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM THUẬN BẮC

TỈNH BÌNH THUẬN


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 40/2025/HS-ST

Ngày: 18/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Nguyễn Thanh Sơn.
    2. Ông Đặng Văn Minh.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Châu Văn Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích T - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2025/TLST-ST ngày 21 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐXXST-HS ngày 04/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đối với bị cáo:

Họ tên: Lê Anh T1; Sinh năm 1996 tại tỉnh Bình Thuận. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Khu phố P, thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12.

Con ông: Lê Ngọc T2, sinh năm 1972; bà Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm 1968; Hiện cả hai đang sống tại khu phố P, thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Có vợ đã ly hôn tên Ngô Thị Hồng K và 01 con sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 24/9/2024, bị cáo hiện đang tạm giam tại phân trại tạm giam khu vực H, công an tỉnh B.

2. Những người tham gia tố tụng:

  • * Bị hại: Bà Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh năm 1982
  • Địa chỉ: Thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
  • *Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:
  • + Ông Lê Ngọc T2, sinh năm 1972
  • + Bà Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm 1968
  • Cùng địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt bị cáo, bị hại, người liên quan.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Từ ngày 13/9/2022 đến ngày 28/9/2022, Lê Anh T1 đã nhiều lần có hành vi đưa thông tin gian dối trong việc mua bán đất để bà H tin tưởng giao, chuyển tiền rồi chiếm đoạt, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Ngày 13/9/2022, tại Văn phòng C (nay là Văn phòng C1) ở thành phố P, sau khi môi giới bán thành công bất động sản của bà H cho người khác, T1 đưa ra thông tin gian dối về một người đàn ông tên Huỳnh Văn N, sinh năm 1968, ở thôn B, xã H, huyện H đang rao bán thửa đất số 36, tờ bản đồ số 8, diện tích 1030m², tọa lạc tại thôn T, xã H, huyện H với giá bán là 360.000.000 đồng. T1 giới thiệu cho bà H và nói tiền đặt cọc để chuyển giao quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên là 100.000.000 đồng. Sau khi nghe T1 giới thiệu thì bà H tin tưởng, đồng ý mua và đưa cho T1 100.000.000 đồng tiền mặt tại Văn phòng C để T1 đặt cọc. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, T1 đến nhà bà H nói bà H ký tên và lăn tay vào tờ mẫu giấy đặt cọc, T1 sẽ ghi thông tin vào sau. Bà H tin tưởng, ký tên và lăn tay vào tờ giấy đặt cọc ở phần “đại diện bên B” (bên mua đất). Sau đó, T1 đem tờ giấy này đến một quán cà phê (không rõ địa chỉ) và tự ghi các thông tin giao nhận tiền cọc vào trong giấy đặt cọc, đồng thời T1 tự ký và lăn tay vào phần “đại diện bên A” (bên bán) và ghi tên ông Huỳnh Văn N. Sau đó, T1 ký tên, lăn tay và điền thông tin của bản thân vào “Đại diện bên C” (người làm chứng). Toàn bộ thông tin liên quan đến ông Huỳnh Văn N, thông tin thửa đất, số tiền bán và số tiền yêu cầu đặt cọc đều do T1 tự bịa ra.

Lần thứ hai: Ngày 14/9/2022, T1 tiếp tục điện thoại cho bà H và nói ông N yêu cầu đưa thêm 30.000.000 đồng tiền đặt cọc đối với thửa đất số 36, tờ bản đồ số 8, diện tích 1030 m², tọa lạc tại thôn T, xã H, huyện H. T1 còn giới thiệu cho bà H tại xã H có người cần bán hơn 800 m², loại đất lúa và nói chủ đất yêu cầu đặt cọc 15.000.000 đồng để bà H mua. Tin tưởng T1 nên bà H đã chuyển 45.000.000 đồng (cả tiền đặt cọc cho ông N và tiền đặt cọc đất ở xã H) từ tài khoản của bà H số 61110000088780 - Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B1) đến số tài khoản 109874858516 – Ngân hàng Thương mại Cổ phần C2 (V1) của Lê Anh T1. Sau đó, nhiều lần bà H đã điện thoại cho T1 và yêu cầu T1 đưa giấy đặt cọc cho bà H. Đến ngày 22/9/2022, T1 tự ký, ghi họ tên, tự lăn tay của T1 vào mặt sau của giấy đặt cọc cùng nội dung: “Hôm nay ngày 22/9/2022, tôi có ứng thêm của chị Nguyễn Thị Ngọc H1 là 30 triệu đồng của thửa đất 36, tờ bản đồ số 08” rồi giao liên màu hồng cho bà H1.

Đối với thửa đất lúa tại xã H thì T1 nói với bà H1 rằng đây là đất lúa, bà H1 không thể đứng tên quyền sử dụng đất được để T1 đứng tên giùm nên không đưa giấy đặt cọc cho bà H1, bà H1 đồng ý và không có ý kiến gì.

Lần thứ ba: Cũng trong ngày 22/09/2022, T1 tiếp tục nói với bà H1 là chủ đất lúa ở H muốn ứng tiền cọc đất thêm 10.000.000 đồng nên bà H1 đã chuyển thêm số tiền 10.000.000 đồng từ tài khoản của bà H1 số 61110000088780 - Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B1) cho Lê Anh T1 theo số tài khoản 109874858516 – Ngân hàng Thương mại Cổ phần C2 (V1).

2

Lần thứ tư: Ngày 26/9/2022, cũng với hình thức trên, T1 tự đưa ra thông tin giới thiệu cho bà H1 mua thửa đất số 146, tờ bản đồ số 37, diện tích 837 m², địa chỉ thửa đất tại khu phố P, thị trấn P, huyện H của ông Châu Văn T3, sinh năm 1967, trú tại khu phố P, thị trấn P, huyện H với giá bán là 370.000.000 đồng; tiền đặt cọc là 30.000.000 đồng. Bà H1 tin tưởng, đồng ý mua và chuyển khoản cho T1 số tiền 30.000.000 đồng từ tài khoản của bà H1 số 61110000088780 - Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B1) cho Lê Anh T1 theo số tài khoản 109874858516 – Ngân hàng T4 (V1). Sau khi chuyển tiền cho T1, bà H1 nhiều lần yêu cầu T1 đưa giấy đặt cọc thì T1 đã tự điền thông tin giả của bên bán (bên A) vào giấy đặt cọc rồi chụp hình ảnh tờ giấy đặt cọc gửi cho bà H1 qua zalo.

Lần thứ năm: Ngày 28/9/2022, T1 đưa ra thông tin gian dối về việc chuyển mục đích lên thổ cư đối với thửa đất số 146, tờ bản đồ số 37, diện tích 837 m², ở khu phố P, thị trấn P, huyện H rồi điện thoại nói với bà H1 làm thủ tục chuyển đổi đất này lên thổ cư, chi phí là 60.000.000 đồng; đồng thời đưa ta thông tin người đứng ra làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất là Nguyễn Công H2, sinh năm 1980, ở thôn K, xã H, huyện H. Bà H1 tin tưởng, đồng ý và chuyển khoản cho T1 số tiền 60.000.000 đồng từ tài khoản của bà H1 số 61110000088780 - Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B1) cho Lê Anh T1 đến số tài khoản 109874858516 – Ngân hàng T4 (V1). Sau khi bà H1 chuyển tiền, T1 tự ghi các thông tin vào trong giấy đặt cọc, tự ký và ghi họ và tên Nguyễn Công H2 và tự lăn tay của T1 vào vị trí đại diện bên A của Nguyễn Công H2, sau đó chụp lại hình ảnh và gửi qua zalo cho bà H1.

Tổng số tiền mà T1 chiếm đoạt của bà H1 là 245.000.000 đồng.

Tại bản kết luận giám định số 827/KL-KTHS ngày 25/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

II. Đối tượng giám định:

1. Mẫu cần giám định:

  • 01 Bản in qua giấy than “Hợp đồng đặt cọc” đề ngày 13/9/2022 giữa Bên bán Huỳnh Văn N và Bên mua Nguyễn Thị Ngọc H1, có in dấu vân tay dưới các mục: “Đại diện bên A”, “Đại diện bên B”, “Đại diện bên C" trên mặt trước và tại vị trí chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Văn N1, Lê Anh T1 trên mặt sau (ký hiệu A1);
  • 01 Bản sao chụp “Hợp đồng đặt cọc” đề ngày 26/09/2022, giữa Bên bán Châu Văn T3 và Bên mua Lê Anh T1, có dấu vân tay dưới các mục: “Đại diện bên A”, “Đại diện bên B” (ký hiệu A2);
  • 01 Bản sao chụp “Hợp đồng đặt cọc” đề ngày 28/09/2022, giữa Bên bán Nguyễn Công H2 và Bên mua Lê Anh T1, có dấu vân tay dưới các mục: “Đại diện bên A”, “Đại bên bên...” (ký hiệu A3);
  • 01 “Giấy cho mượn tiền mặt” đề ngày 31/10/2022, dưới mục: “Người mượn” có in vân tay và chữ ký, chữ viết mang tên Lê Anh T1 (ký hiệu A4);
  • 01 “Giấy giao nhận tiền mặt” đề ngày 31/10/2022, dưới mục: “Người nhận tiền” có in vân tay và chữ ký, chữ viết mang tên Lê Anh T1 (ký hiệu A5).

2. Mẫu so sánh, tài liệu có liên quan hoặc gửi kèm theo:

3

  • 02 tài liệu có các chữ ký, chữ viết đứng tên Lê Anh T1, đề ngày 04/7/2024 (ký hiệu M1, M2);
  • 02 “Bản tự khai/Bản tường trình” đứng tên Lê Anh T1, đề ngày 23/1/2024 (ký hiệu M3); đề ngày 04/7/2024 (ký hiệu M4);
  • 02 “Biên bản ghi lời khai” có chữ ký, chữ viết đứng tên Lê Anh T1 đề ngày 23/01/2024 (ký hiệu M5); đề ngày 04/7/2024 (ký hiệu M6);
  • 01 D chỉ bản in vân tay của người có tên Lê Anh T1 sinh ngày 18/5/1996, nơi thường trú: Khu phố P, thị trấn P, huyện H (ký hiệu M7).

V. Kết luận về đối tượng giám định

1. Chữ ký, chữ viết.

  • Chữ ký, chữ viết trên hai mặt tài liệu cần giám định kí hiệu A1 (trừ chữ ký, chữ viết dưới mục: “Đại diện bên A”, “Đại diện bên C”, “Đại diện bên B”; trừ chữ ký mang tên Nguyễn Văn N1 tại mặt sau) so với chữ ký, chữ viết đứng tên Lê Anh T1 trên các tài liệu mẫu so sánh kí hiệu từ M1 đến M6 là do cùng một người ký, viết.
  • Không đủ cơ sở để kết luận chữ ký, chữ viết dưới mục: “Đại diện bên A”, “Đại diện bên C”; chữ ký mang tên Nguyễn Văn N1 tại mặt sau trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 so với chữ ký, chữ viết đứng tên Lê Anh T1 trên các tài liệu mẫu so sánh kí hiệu từ M1 đến M6, là do cùng một người ký, viết hay không.
  • Chữ viết, chữ ký trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A2, A3 là chữ ký, chữ viết qua sao chụp, do đó không tiến hành giám định kết luận.
  • Chữ ký, chữ viết mang tên Lê Anh T1 dưới mục: “Người mượn” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A4; dưới mục: “Người nhận tiền” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A5 so với chữ ký, chữ viết đứng tên Lê Anh T1 trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M6, là do cùng một người ký, viết.

2. Vân tay.

  • V tay trên hai mặt của tài liệu cần giám định ký hiệu A1 (trừ vân tay dưới mục: “Đại diện bên B”); trên tài liệu cần giám định ký hiệu từ A2 đến A5 (trừ 01 (một) vân tay tại vị trí góc dưới ngoài cùng bên phải dưới mục: “Đại diện bên...” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A3) so với vân tay in trên tai liệu mẫu so sánh ký hiệu M7, là vân tay của cùng một người.
  • Dấu vân tay tại vị trí góc dưới ngoài cùng bên phải dưới mục: “Đại diện bên...” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A3 mờ nhòe, không rõ đặc điểm, không đủ yếu tố giám định.

Tại bản kết luận giám định số 1295/KL-KTHS ngày 17/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

II. Đối tượng giám định

1. Mẫu cần giám định:

  • 01 bản chính, nền giấy màu trắng, dưới mục: “Đại diện bên A” có chữ ký, chữ viết, vân tay mang tên Châu Văn T3 và “Đại diện bên B” có chữ ký, chữ viết, vân tay mang tên Lê Anh T1 (ký hiệu A1);
  • 01 bản in qua giấy than, nền giấy màu xanh, dưới mục: “Đại diện bên A” có chữ ký, chữ viết mang tên Châu Văn T3 và “Đại diện bên B” có chữ ký, chữ viết mang tên Lê Anh T1 (ký hiệu A2);
  • 01 bản in qua giấy than, nền giấy màu hồng, dưới mục: “Đại diện bên A” có chữ ký, chữ viết, vân tay mang tên Châu Văn T3 và “Đại diện bên B” có chữ ký, chữ viết, vân tay mang tên Lê Anh T1 (ký hiệu A3).
  • 01 bản chính, nền giấy màu trắng, dưới mục: “Đại diện bên A” có chữ ký, chữ viết, vân tay mang tên Nguyễn Công H2 và “Đại diện bên B” có chữ ký, chữ viết, vân tay mang tên Lê Anh T1 (ký hiệu A4);

4

  • 01 bản in qua giấy than, nền giấy màu hồng, dưới mục: “Đại diện bên A” có chữ ký, chữ viết, vân tay mang tên Nguyễn Công H2 và “Đại diện bên B" có chữ ký, chữ viết, vân tay mang tên Lê Anh T1 (ký hiệu A5).
  • 01 bản in qua giấy than, nền giấy màu xanh “Hợp đồng đặt cọc” để ngày 13/9/2022, dưới các mục: “Đại diện bên A”, “Đại diện bên C”, “Đại diện bên B” có in vân tay và chữ ký, chữ viết không rõ nội dung (ký hiệu A6).

2. Mẫu so sánh, tài liệu có liên quan hoặc gửi kèm theo:

  • 02 tài liệu có các chữ ký, chữ viết đứng tên Lê Anh T1, đề ngày 04/7/2024 (ký hiệu M1, M2);
  • 02 “Bản tự khai Bản tường trình” đứng tên Lê Anh T1, đề ngày 23/1/2024 (ký hiệu M3); đề ngày 04/7/2024 (ký hiệu M4);
  • 02 “Biên bản ghi lời khai” có chữ ký, chữ viết đứng tên Lê Anh T1 đề ngày 23/01/2024 (ký hiệu M5); đề ngày 04/7/2024 (ký hiệu M6);
  • 01 D chỉ bản in vân tay của người có tên Lê Anh T1 sinh ngày 18/5/1996, nơi thường trú: Khu phố P, thị trấn P, huyện H (ký hiệu M7).

V. Kết luận về đối tượng giám định

1. Tài liệu:

1.1. Chữ viết, chữ ký trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2, A3 (trừ chữ ký mang tên Châu Văn T3 dưới mục: “Đại diện bên A”) so với chữ viết, chữ ký đứng tên Lê Anh T1 trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M6, là do cùng một người viết, ký ra.

  • Không đủ cơ sở để kết luận chữ ký mang tên Châu Văn T3 dưới mục: “Đại diện bên A” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2, A3 so với chữ ký đứng tên Lê Anh T1 trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M6, có phải do cùng một người ký ra hay không.
  • Chữ viết, chữ ký trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2, A3 là được in qua giấy than từ tài liệu cần giám định ký hiệu A1.

1.2. Chữ viết, chữ ký trên tài liệu cần giám định ký hiệu A4, A5 (trừ chữ ký mang tên Nguyễn Công H2 dưới mục: “Đại diện bên A”) so với chữ viết, chữ ký đứng tên Lê Anh T1 trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M6, là do cùng một người viết, ký ra.

  • Không đủ cơ sở để kết luận chữ ký mang tên Nguyễn Công H2 dưới mục: “Đại diện bên A” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A4, A5 so với chữ ký, đứng tên Lê Anh T1 trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M6 có phải do cùng một người ký ra hay không.
  • Chữ viết, chữ ký trên tài liệu cần giám định ký hiệu A5 là được in qua giấy than từ tài liệu cần giám định ký hiệu A4 (trừ chữ viết có nội dung: “+15.000.000 (mười lăm triệu) + 15.000.000 (mười lăm triệu đồng) tại Mục: “Điều 2: Thỏa thuận giá bán, chuyển nhượng” và “30.000.000", "90.000.000" tại bên trái và phía dưới nội dung: “(Sáu mươi triệu đồng)” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A4 không được viết qua giấy than lên tài liệu cần giám định ký hiệu A5).

5

1.3. Chữ viết, chữ ký trên tài liệu cần giám định ký hiệu A6 (trừ chữ ký, chữ viết dưới mục: “Đại diện bên A”, “Đại diện bên C”, “Đại diện bên B") so với chữ viết, chữ ký đứng tên Lê Anh T1 trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M6 là do cùng một người viết, ký ra.

  • Chữ ký, chữ viết dưới mục: “Đại diện bên A”, “Đại diện bên C” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A6 mờ, không rõ đặc điểm, không tiến hành giám định.

Chữ viết từ mục: “Ngày 13 tháng 09 năm 2022” đến mục: “Cam kết chung” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A6 và A1-827, là được in qua giấy than từ cùng một tài liệu gốc.

2. Vân tay:

  • Vân tay in dưới mục: “Đại diện bên A”, “Đại diện bên B” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A3, A4, A5 so với vân tay Lê Anh T1 in trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M7, là vân tay của cùng một người.
  • Vân tay in dưới mục: “Đại diện bên A”, “Đại diện bên C” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A6 so với vân tay Lê Anh T1 in trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M7, là vân tay của cùng một người.

Về dân sự: Bà Nguyễn Thị Ngọc H1 yêu cầu Lê Anh T1 trả lại số tiền 245.000.000 đồng mà ông T1 đã chiếm đoạt. Đến nay, ông Lê Ngọc T2 (cha của Lê Anh T1) đã bồi thường số tiền 50.000.000 đồng cho bà H1, số tiền 195.000.000 đồng còn lại, bà H1 yêu cầu T1 tiếp tục bồi thường.

Với nội dung trên, Cáo trạng số 24/CT-VKSHTB ngày 20/01/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Lê Anh T1 theo khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã truy tố và thống nhất với các điều khoản mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã viện dẫn trong Cáo trạng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc giữ quyền công tố luận tội và tranh luận đã phân tích hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” như nội dung Cáo trạng, đồng thời xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo. Đề nghị: Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt: Lê Anh T1 từ 07 (B) năm tù đến 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/9/2024.

6

*Về dân sự: Bà Nguyễn Thị Ngọc H1 yêu cầu Lê Anh T1 trả lại số tiền 245.000.000 đồng mà T1 đã chiếm đoạt. Đến nay, Lê Ngọc T2 (cha của Lê Anh T1) đã bồi thường số tiền 50.000.000 đồng cho bà H1, số tiền 195.000.000 đồng còn lại, bà H1 yêu cầu T1 tiếp tục bồi thường.

* Ý kiến của bị cáo: Bị cáo đồng ý với nội dung và tội danh mà Cáo trạng của VKSND huyện Hàm Thuận Bắc đã truy tố, đồng thời xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Không có ý kiến tranh luận, không yêu cầu gì.

Bị hại: Không có ý kiến tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận số tiền bồi thường là do bị cáo tác động cha mẹ bồi thường cho bị hại. Bị hại thừa nhận nhận tiền bồi thường từ ông Lê Ngọc T2. Ông Lê Ngọc T2 có mặt tại phiên toà thừa nhận số tiền bồi thường cho bị hại là tiền chung của vợ chồng ông, bồi thường cho bị hại. Bà Nguyễn Thị Cẩm H thống nhất lời khai của ông T2. Ông T2, bà H thống nhất không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã bồi thường thay cho bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai và các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án, đã có đủ cơ sở xác định: Từ ngày 13/9/2022 đến ngày 28/9/2022, Lê Anh T1 đã nhiều lần có hành vi đưa thông tin gian dối trong việc mua bán đất để bà H tin tưởng giao, chuyển tiền rồi chiếm đoạt cụ thể:

Lần thứ nhất: Ngày 13/9/2022, tại Văn phòng C (nay là Văn phòng C1) ở thành phố P, sau khi môi giới bán thành công bất động sản của bà H cho người khác, T1 đưa ra thông tin gian dối về một người đàn ông tên Huỳnh Văn N, sinh năm 1968, ở thôn B, xã H, huyện H đang rao bán thửa đất số 36, tờ bản đồ số 8, diện tích 1030m², tọa lạc tại thôn T, xã H, huyện H với giá bán là 360.000.000 đồng. T1 giới thiệu cho bà H và nói tiền đặt cọc để chuyển giao quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên là 100.000.000 đồng. Sau khi nghe T1 giới thiệu thì bà H tin tưởng, đồng ý mua và đưa cho T1 100.000.000 đồng tiền mặt tại Văn phòng C

7

để T1 đặt cọc. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, T1 đến nhà bà H nói bà H ký tên và lăn tay vào tờ mẫu giấy đặt cọc, T1 sẽ ghi thông tin vào sau. Bà H tin tưởng, ký tên và lăn tay vào tờ giấy đặt cọc ở phần “đại diện bên B” (bên mua đất). Sau đó, T1 đem tờ giấy này đến một quán cà phê (không rõ địa chỉ) và tự ghi các thông tin giao nhận tiền cọc vào trong giấy đặt cọc, đồng thời T1 tự ký và lăn tay vào phần “đại diện bên A” (bên bán) và ghi tên ông Huỳnh Văn N. Sau đó, T1 ký tên, lăn tay và điền thông tin của bản thân vào “Đại diện bên C” (người làm chứng). Toàn bộ thông tin liên quan đến ông Huỳnh Văn N, thông tin thửa đất, số tiền bán và số tiền yêu cầu đặt cọc đều do T1 tự bịa ra.

Lần thứ hai: Ngày 14/9/2022, T1 tiếp tục điện thoại cho bà H và nói ông N yêu cầu đưa thêm 30.000.000 đồng tiền đặt cọc đối với thửa đất số 36, tờ bản đồ số 8, diện tích 1030 m², tọa lạc tại thôn T, xã H, huyện H. T1 còn giới thiệu cho bà H tại xã H có người cần bán hơn 800 m², loại đất lúa và nói chủ đất yêu cầu đặt cọc 15.000.000 đồng để bà H mua. Tin tưởng T1 nên bà H đã chuyển 45.000.000 đồng (cả tiền đặt cọc cho ông N và tiền đặt cọc đất ở xã H) từ tài khoản của bà H số 61110000088780 - Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B1) đến số tài khoản 109874858516 – Ngân hàng Thương mại Cổ phần C2 (V1) của Lê Anh T1. Sau đó, nhiều lần bà H đã điện thoại cho T1 và yêu cầu T1 đưa giấy đặt cọc cho bà H. Đến ngày 22/9/2022, T1 tự ký, ghi họ tên, tự lăn tay của T1 vào mặt sau của giấy đặt cọc cùng nội dung: “Hôm nay ngày 22/9/2022, tôi có ứng thêm của chị Nguyễn Thị Ngọc H1 là 30 triệu đồng của thửa đất 36, tờ bản đồ số 08” rồi giao liên màu hồng cho bà H1.

Đối với thửa đất lúa tại xã H thì T1 nói với bà H1 rằng đây là đất lúa, bà H1 không thể đứng tên quyền sử dụng đất được để T1 đứng tên giùm nên không đưa giấy đặt cọc cho bà H1, bà H1 đồng ý và không có ý kiến gì.

Lần thứ ba: Cũng trong ngày 22/09/2022, T1 tiếp tục nói với bà H1 là chủ đất lúa ở H muốn ứng tiền cọc đất thêm 10.000.000 đồng nên bà H1 đã chuyển thêm số tiền 10.000.000 đồng từ tài khoản của bà H1 số 61110000088780 - Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B1) cho Lê Anh T1 theo số tài khoản 109874858516 – Ngân hàng Thương mại Cổ phần C2 (V1).

Lần thứ tư: Ngày 26/9/2022, cũng với hình thức trên, T1 tự đưa ra thông tin giới thiệu cho bà H1 mua thửa đất số 146, tờ bản đồ số 37, diện tích 837 m², địa chỉ thửa đất tại khu phố P, thị trấn P, huyện H của ông Châu Văn T3, sinh năm 1967, trú tại khu phố P, thị trấn P, huyện H với giá bán là 370.000.000 đồng; tiền đặt cọc là 30.000.000 đồng. Bà H1 tin tưởng, đồng ý mua và chuyển khoản cho T1 số tiền 30.000.000 đồng từ tài khoản của bà H1 số 61110000088780 - Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B1) cho Lê Anh T1 theo số tài khoản 109874858516 – Ngân hàng T4 (V1). Sau khi chuyển tiền cho T1, bà H1 nhiều lần yêu cầu T1 đưa giấy đặt cọc thì T1 đã tự điền thông tin giả của bên bán (bên A) vào giấy đặt cọc rồi chụp hình ảnh tờ giấy đặt cọc gửi cho bà H1 qua zalo.

Lần thứ năm: Ngày 28/9/2022, T1 đưa ra thông tin gian dối về việc chuyển mục đích lên thổ cư đối với thửa đất số 146, tờ bản đồ số 37, diện tích 837 m², ở khu phố P, thị trấn P, huyện H rồi điện thoại nói với bà H1 làm thủ tục chuyển đổi

8

đất này lên thổ cư, chi phí là 60.000.000 đồng; đồng thời đưa ta thông tin người đứng ra làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất là Nguyễn Công H2, sinh năm 1980, ở thôn K, xã H, huyện H. Bà H1 tìn tưởng, đồng ý và chuyển khoản cho T1 số tiền 60.000.000 đồng từ tài khoản của bà H1 số 61110000088780 - Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B1) cho Lê Anh T1 đến số tài khoản 109874858516 – Ngân hàng T4 (V1). Sau khi bà H1 chuyển tiền, T1 tự ghi các thông tin vào trong giấy đặt cọc, tự ký và ghi họ và tên Nguyễn Công H2 và tự lăn tay của T1 vào vị trí đại diện bên A của Nguyễn Công H2, sau đó chụp lại hình ảnh và gửi qua zalo cho bà H1.

Tổng số tiền mà T1 chiếm đoạt của bà H1 là 245.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền trên, T1 đã sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân.

Tại các biên bản ghi lời khai của bị cáo, bị hại; biên bản hỏi cung; lời khai bị cáo tại phiên tòa đều thống nhất hành vi của bị cáo đúng như Cáo trạng đã nêu.

Tại bản kết luận giám định số 827/KL-KTHS ngày 25/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

II. Đối tượng giám định:

1. Mẫu cần giám định:

  • 01 Bản in qua giấy than “Hợp đồng đặt cọc” đề ngày 13/9/2022 giữa Bên bán Huỳnh Văn N và Bên mua Nguyễn Thị Ngọc H1, có in dấu vân tay dưới các mục: “Đại diện bên A”, “Đại diện bên B”, “Đại diện bên C" trên mặt trước và tại vị trí chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Văn N1, Lê Anh T1 trên mặt sau (ký hiệu A1);
  • 01 Bản sao chụp “Hợp đồng đặt cọc” đề ngày 26/09/2022, giữa Bên bán Châu Văn T3 và Bên mua Lê Anh T1, có dấu vân tay dưới các mục: “Đại diện bên A”, “Đại diện bên B” (ký hiệu A2);
  • 01 Bản sao chụp “Hợp đồng đặt cọc” đề ngày 28/09/2022, giữa Bên bán Nguyễn Công H2 và Bên mua Lê Anh T1, có dấu vân tay dưới các mục: “Đại diện bên A”, “Đại bên bên...” (ký hiệu A3);
  • 01 “Giấy cho mượn tiền mặt” đề ngày 31/10/2022, dưới mục: “Người mượn” có in vân tay và chữ ký, chữ viết mang tên Lê Anh T1 (ký hiệu A4);
  • 01 “Giấy giao nhận tiền mặt” đề ngày 31/10/2022, dưới mục: “Người nhận tiền” có in vân tay và chữ ký, chữ viết mang tên Lê Anh T1 (ký hiệu A5).

2. Mẫu so sánh, tài liệu có liên quan hoặc gửi kèm theo:

  • 02 tài liệu có các chữ ký, chữ viết đứng tên Lê Anh T1, đề ngày 04/7/2024 (ký hiệu M1, M2);
  • 02 “Bản tự khai/Bản tường trình” đứng tên Lê Anh T1, đề ngày 23/1/2024 (ký hiệu M3); đề ngày 04/7/2024 (ký hiệu M4);
  • 02 “Biên bản ghi lời khai” có chữ ký, chữ viết đứng tên Lê Anh T1 đề ngày 23/01/2024 (ký hiệu M5); đề ngày 04/7/2024 (ký hiệu M6);
  • 01 D chỉ bản in vân tay của người có tên Lê Anh T1 sinh ngày 18/5/1996, nơi thường trú: Khu phố P, thị trấn P, huyện H (ký hiệu M7).

9

V. Kết luận về đối tượng giám định

1. Chữ ký, chữ viết trên hai mặt tài liệu cần giám định kí hiệu A1 (trừ chữ ký, chữ viết dưới mục: “Đại diện bên A”, “Đại diện bên C”, “Đại diện bên B”; trừ chữ ký mang tên Nguyễn Văn N1 tại mặt sau) so với chữ ký, chữ viết đứng tên Lê Anh T1 trên các tài liệu mẫu so sánh kí hiệu từ M1 đến M6 là do cùng một người ký, viết.

  • Không đủ cơ sở để kết luận chữ ký, chữ viết dưới mục: “Đại diện bên A”, “Đại diện bên C”; chữ ký mang tên Nguyễn Văn N1 tại mặt sau trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 so với chữ ký, chữ viết đứng tên Lê Anh T1 trên các tài liệu mẫu so sánh kí hiệu từ M1 đến M6, là do cùng một người ký, viết hay không.
  • Chữ viết, chữ ký trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A2, A3 là chữ ký, chữ viết qua sao chụp, do đó không tiến hành giám định kết luận.

2. Chữ ký, chữ viết mang tên Lê Anh T1 dưới mục: “Người mượn” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A4; dưới mục: “Người nhận tiền” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A5 so với chữ ký, chữ viết đứng tên Lê Anh T1 trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M6, là do cùng một người ký, viết.

3. V tay trên hai mặt của tài liệu cần giám định ký hiệu A1 (trừ vân tay dưới mục: “Đại diện bên B”); trên tài liệu cần giám định ký hiệu từ A2 đến A5 (trừ 01 (một) vân tay tại vị trí góc dưới ngoài cùng bên phải dưới mục: “Đại diện bên...” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A3) so với vân tay in trên tai liệu mẫu so sánh ký hiệu M7, là vân tay của cùng một người.

  • Dấu vân tay tại vị trí góc dưới ngoài cùng bên phải dưới mục: “Đại diện bên...” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A3 mờ nhòe, không rõ đặc điểm, không đủ yếu tố giám định.

Tại bản kết luận giám định số 1295/KL-KTHS ngày 17/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

II. Đối tượng giám định

1. Mẫu cần giám định:

  • 01 bản chính, nền giấy màu trắng, dưới mục: “Đại diện bên A” có chữ ký, chữ viết, vân tay mang tên Châu Văn T3 và “Đại diện bên B” có chữ ký, chữ viết, vân tay mang tên Lê Anh T1 (ký hiệu A1);
  • 01 bản in qua giấy than, nền giấy màu xanh, dưới mục: “Đại diện bên A” có chữ ký, chữ viết mang tên Châu Văn T3 và “Đại diện bên B” có chữ ký, chữ viết mang tên Lê Anh T1 (ký hiệu A2);
  • 01 bản in qua giấy than, nền giấy màu hồng, dưới mục: “Đại diện bên A” có chữ ký, chữ viết, vân tay mang tên Châu Văn T3 và “Đại diện bên B” có chữ ký, chữ viết, vân tay mang tên Lê Anh T1 (ký hiệu A3).
  • 01 bản chính, nền giấy màu trắng, dưới mục: “Đại diện bên A” có chữ ký, chữ viết, vân tay mang tên Nguyễn Công H2 và “Đại diện bên B” có chữ ký, chữ viết, vân tay mang tên Lê Anh T1 (ký hiệu A4);

10

  • 01 bản in qua giấy than, nền giấy màu hồng, dưới mục: “Đại diện bên A” có chữ ký, chữ viết, vân tay mang tên Nguyễn Công H2 và “Đại diện bên B" có chữ ký, chữ viết, vân tay mang tên Lê Anh T1 (ký hiệu A5).
  • 01 bản in qua giấy than, nền giấy màu xanh “Hợp đồng đặt cọc” để ngày 13/9/2022, dưới các mục: “Đại diện bên A”, “Đại diện bên C”, “Đại diện bên B” có in vân tay và chữ ký, chữ viết không rõ nội dung (ký hiệu A6).

2. Mẫu so sánh, tài liệu có liên quan hoặc gửi kèm theo:

  • 02 tài liệu có các chữ ký, chữ viết đứng tên Lê Anh T1, đề ngày 04/7/2024 (ký hiệu M1, M2);
  • 02 “Bản tự khai Bản tường trình” đứng tên Lê Anh T1, đề ngày 23/1/2024 (ký hiệu M3); đề ngày 04/7/2024 (ký hiệu M4);
  • 02 “Biên bản ghi lời khai” có chữ ký, chữ viết đứng tên Lê Anh T1 đề ngày 23/01/2024 (ký hiệu M5); đề ngày 04/7/2024 (ký hiệu M6);
  • 01 D chỉ bản in vân tay của người có tên Lê Anh T1 sinh ngày 18/5/1996, nơi thường trú: Khu phố P, thị trấn P, huyện H (ký hiệu M7).

V. Kết luận về đối tượng giám định

1. Tài liệu:

1.1. Chữ viết, chữ ký trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2, A3 (trừ chữ ký mang tên Châu Văn T3 dưới mục: “Đại diện bên A”) so với chữ viết, chữ ký đứng tên Lê Anh T1 trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M6, là do cùng một người viết, ký ra.

  • Không đủ cơ sở để kết luận chữ ký mang tên Châu Văn T3 dưới mục: “Đại diện bên A” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2, A3 so với chữ ký đứng tên Lê Anh T1 trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M6, có phải do cùng một người ký ra hay không.
  • Chữ viết, chữ ký trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2, A3 là được in qua giấy than từ tài liệu cần giám định ký hiệu A1.

1.2. Chữ viết, chữ ký trên tài liệu cần giám định ký hiệu A4, A5 (trừ chữ ký mang tên Nguyễn Công H2 dưới mục: “Đại diện bên A”) so với chữ viết, chữ ký đứng tên Lê Anh T1 trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M6, là do cùng một người viết, ký ra.

  • Không đủ cơ sở để kết luận chữ ký mang tên Nguyễn Công H2 dưới mục: “Đại diện bên A” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A4, A5 so với chữ ký, đứng tên Lê Anh T1 trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M6 có phải do cùng một người ký ra hay không.
  • Chữ viết, chữ ký trên tài liệu cần giám định ký hiệu A5 là được in qua giấy than từ tài liệu cần giám định ký hiệu A4 (trừ chữ viết có nội dung: “+15.000.000 (mười lăm triệu) + 15.000.000 (mười lăm triệu đồng) tại Mục: “Điều 2: Thỏa thuận giá bán, chuyển nhượng” và “30.000.000", "90.000.000" tại bên trái và phía dưới nội dung: “(Sáu mươi triệu đồng)” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A4 không được viết qua giấy than lên tài liệu cần giám định ký hiệu A5).

11

1.3. Chữ viết, chữ ký trên tài liệu cần giám định ký hiệu A6 (trừ chữ ký, chữ viết dưới mục: “Đại diện bên A”, “Đại diện bên C”, “Đại diện bên B") so với chữ viết, chữ ký đứng tên Lê Anh T1 trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M6 là do cùng một người viết, ký ra.

  • Chữ ký, chữ viết dưới mục: “Đại diện bên A”, “Đại diện bên C” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A6 mờ, không rõ đặc điểm, không tiến hành giám định.

Chữ viết từ mục: “Ngày 13 tháng 09 năm 2022” đến mục: “Cam kết chung” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A6 và A1-827, là được in qua giấy than từ cùng một tài liệu gốc.

2. Vân tay:

  • Vân tay in dưới mục: “Đại diện bên A”, “Đại diện bên B” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A3, A4, A5 so với vân tay Lê Anh T1 in trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M7, là vân tay của cùng một người.
  • Vân tay in dưới mục: “Đại diện bên A”, “Đại diện bên C” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A6 so với vân tay Lê Anh T1 in trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M7, là vân tay của cùng một người.

[3] Bị cáo đã nhiều lần có hành vi đưa thông tin gian dối về chủ sở hữu các thửa đất toạ lạc tại huyện H có nhu cầu bán để bà H1 tin tưởng, đồng ý đặt cọc. Bị cáo tiếp tục hành vi giả chữ ký của chủ sở hữu để nhận cọc tạo niềm tin cho bị hại nhiều lần giao, chuyển tiền cho bị cáo rồi chiếm đoạt với tổng số tiền chiếm đoạt 245.000.000đồng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến khách thể được Luật Hình sự bảo vệ là quyền sở hữu tài sản của công dân. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo 05 lần thực hiện hành vi lừa đảo tài sản nên thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;

[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 50.000.000đồng; Có cha được Kỷ niệm chương của Bộ, Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất của Chủ tịch nước, Huy chương Quân kỳ Quyết thắng của Chủ tịch nước. Tại phiên toà bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi trên không những vi phạm pháp luật mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an ninh tại địa phương.

12

Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xử lý nghiêm để góp phần răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

[7] Ngoài các lần T1 sử dụng thủ đoạn gian đối để chiếm đoạt tiền của bà H1, T1 còn nhiều lần vay mượn tiền của bà H1. Tổng số tiền T1 đã vay của bà H1 là 260.000.000 đồng. Quá trình điều tra, cả hai bên đều xác định đây là khoản tiền vay mượn nên không liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã chiếm đoạt tài sản của bị hại số tiền 245.000.000đồng. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 50.000.000đồng. Tại phiên toà bị cáo đồng ý tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền còn lại 195.000.000đồng. Hội đồng xét xử thấy việc thoả thuận trên là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp pháp luật nên công nhận.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Anh T1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng: Khoản 3 Điều 174; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Anh T1 07 (B) năm tù. Thời hạn tù kể từ ngày 24/9/2024.

Về dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự. Điều 584, Điều 585, Khoản 1 Điều 586, Điều 589 Bộ luật Dân sự 2015.

Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại như sau: Bị cáo phải có trách nhiệm tiếp tục bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn Thị Ngọc H1 số tiền 195.000.000 đồng (Một trăm chín mươi lăm triệu đồng).

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015

2. Án phí: Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23; Điều 26; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Anh T1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 9.750.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Án xử công khai, bị cáo, bị hại, người liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có

13

quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự”

* Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Hàm Thuận Bắc;
  • - Công an huyện Hàm Thuận Bắc;
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh Bình Thuận;
  • - Bị cáo, Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Chi cục THADS Hàm Thuận Bắc;
  • - UBND địa phương bị cáo cư trú.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hà

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hà

14

15

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 40/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: lừa đảo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger