Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2025/HS-ST

Ngày: 06-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư và bà Hoàng Thị Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Cẩm Vân - Kiểm sát viên

Trong ngày 06 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025, quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/QĐST-HS ngày 25/02/2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Vi Quốc H, sinh năm 2003, tại Bắc Giang

    Nơi đăng ký thường trú: Thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi ở khi phạm tội: Số nhà A, đường H, tổ dân phố T, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa 9/12; Bố: Vi Văn C, sinh năm 1982; Mẹ: Lý Thị L, sinh năm 1981; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo đầu thú, tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/9/2024, hiện tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt)

  2. Họ và tên: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1993, tại Bắc Giang

    Nơi đăng ký thường trú: Thôn B, xã D, huyện S, tỉnh Bắc Giang; Nơi ở khi phạm tội: Số nhà A, đường H, tổ dân phố T, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa 12/12; Bố: Nguyễn Minh K, sinh năm 1954 (đã chết); Mẹ: Phùng Thị T, sinh năm 1958; Gia đình có 06 chị em, bị cáo là thứ sáu; Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo đầu thú, tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/9/2024, hiện tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt)

  3. Họ và tên: Giáp Khánh D, sinh năm 1998, tại Bắc Giang

    Nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã D, huyện S, tỉnh Bắc Giang; Nơi ở khi phạm tội: Số nhà A, đường H, tổ dân phố T, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa 12/12; Bố: Giáp Văn K1, sinh năm 1977; Mẹ: Nguyễn Thị L1, sinh năm 1980; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo đầu thú, tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/9/2024, hiện tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Trần Tiến P, sinh năm 1992 (vắng mặt)

    Địa chỉ: Tổ dân phố G, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

  2. Chị Phạm Thị Thanh H1, sinh năm 1972 (vắng mặt)

    Địa chỉ: Số nhà A, đường H, tổ dân phố T, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vi Quốc H, Giáp Khánh D, Trần Tiến P, Nguyễn Văn Đ là công nhân công ty Vệ sinh công nghiệp VNG do Nguyễn Văn Đ đứng tên làm giám đốc.

Khoảng 15 giờ ngày 12/9/2024, Điều, D, H và Phan N uống rượu trong phòng phía sau tầng 2 tại số nhà A, đường H, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang mà Điều thuê để vừa làm văn phòng công ty vừa là chỗ ở. Sau khi uống rượu xong, D nói “hôm nay được nghỉ, anh em ngồi làm tí nhỉ”, ý của D là rủ mọi người sử dụng ma tuý thì H nói “em biết chỗ lấy đồ ở gần đây, có gì để em đi lấy”. D bảo Điều tạm ứng tiền trước cho mọi người thì Đ nói là không có tiền. H tiếp tục bảo Điều cho tạm ứng tiền, khi nào nhận tiền lương sẽ trả thì Đ đồng ý. Điều lấy 800.000 đồng trong ví đưa cho H. Khi D, H và Điều bàn bạc về việc mua ma tuý về sử dụng, Phan ngồi chơi điện thoại nên không biết.

Sau đó, H mượn Phan chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH biển kiểm soát 98D1-83727 để đi mua ma túy. H mua được một viên ma túy MDMA và nửa chỉ ma túy, loại Ketamine, rồi quay trở lại phòng, nói đã mua được ma túy, bật loa, mở nhạc rồi lấy viên ma túy MDMA bẻ làm 3 phần cho vào lon nước Cocacola có sẵn trong phòng. H đưa lon nước vừa pha ma túy cho Đ uống rồi lần lượt đến H, sau đó đưa cho Điều uống. H cầm lon nước pha ma túy đến chỗ P nằm ngủ, gọi dậy sử dụng ma túy nhưng P không sử dụng. H tự uống hết lon nước pha ma túy rồi để vỏ lon ở chân giường.

Sau khi sử dụng hết ma túy MDMA, H lấy tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, lấy thẻ ATM đó hết số ma túy Ketamine ra tờ tiền, dùng bật lửa hơ nóng tờ tiền đựng ma túy và dùng thẻ ATM dầm nhỏ ma túy kẻ thành nhiều đường. H lấy tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng quấn thành ống hút cố định bằng đầu lọc điếu thuốc lá rồi đưa cho Đ. H cầm tờ tiền đựng ma túy để D dùng ống hút hút ma túy vào cơ thể. D sử dụng ma túy xong đưa cho Hoàng ống hút. H đưa ống hút cho Đ và cầm tờ tiền đựng ma túy để Điều hút ma túy vào cơ thể. Điều sử dụng ma túy xong đưa lại cho H. Hoàng tự sử dụng ma túy rồi cầm tờ tiền đựng ma túy, ống hút đến chỗ P nằm ngủ và hỏi thì Phan N1 là không sử dụng ma tuý. H cầm tờ tiền đựng ma túy tiếp tục đưa cho D và Điều sử dụng rồi H sử dụng. Sau khi sử dụng hết ma túy, H lau sạch tờ tiền 10.000 đồng rồi cất vào ví, lau sạch tờ tiền 2.000 đồng rồi để ở chân tủ và để vỏ túi nilon đựng ma túy ở đầu giường. Một lúc sau, Phan thức dậy đi xe mô tô về nhà còn Điều, H và Đ nằm nghe nhạc.

Khoảng 19 giờ cùng ngày, Công an phường Đ kiểm tra hành chính tại phòng phía sau tầng hai số nhà A, đường H, phường Đ, thành phố B thu giữ:

  • 01 thẻ ngân hàng V mang tên Vi Quốc Hoàng trên bề mặt bám dính chất bột màu trắng nghi là ma túy; 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu xanh bên trong bám dính chất bột màu trắng nghi là ma túy phát hiện thu giữ trên kệ giường trong phòng ngủ phía sau tầng 2, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KT”.
  • 01 vỏ lon Cocacola màu đỏ thu giữ tại nền phòng cạnh giường phòng ngủ của Nguyễn Văn Đ được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KT1”.
  • 01 bật lửa gas màu đỏ; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “Thăng Long” màu vàng; 01 loa nhãn hiệu Hopestan; 01 loa màu đen, thân trên màu trắng; 01 đèn nháy.
  • 01 căn cước công dân và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng, có số IMEI: “354506120302383” của Giáp Khánh D.
  • 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu vàng có số IMEI: “35611409475851” của Vi Quốc H.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi 5G có số IMEI: “865726057401188” và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu xám, có số IMEI: “35380108550379” của Nguyễn Văn Đ.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Đ, Giáp Khánh D, Vi Quốc H đầu thú, H giao nộp 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng đã dùng làm ống hút để sử dụng ma túy được niêm phong trong phong bì ký hiệu “T1”.

Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp tại số nhà A, đường H, phường Đ, thành phố B đã thu giữ: 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng bề mặt bám dính chất bột màu trắng nghi là ma túy thu giữ tại mặt giường trong phòng ngủ tầng 2 được niêm phong trong phong bì ký hiệu "KX01".

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định chất nghi ma túy trên số vật chứng đã thu giữ. Kết luận giám định số 2002/KL- KTHS ngày 19/9/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận:

  • Trong 01 phong bì thư ký hiệu “KT” được niêm phong gửi giám định: Chất bột màu trắng bám dính trên 01 thẻ ngân hàng V mang tên “VI QUOC HOANG” là ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng mẫu. Chất bột màu trắng bám dính trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu xanh là ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng mẫu.
  • Trong 01 phong bì thư ký hiệu “KT1” được niêm phong gửi giám định: Trong 01 túi nilon màu trắng: Chất màu đen bám dính trong 01 vỏ lon CocaCola màu đỏ có tìm thấy chất ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng mẫu.
  • Trong 01 phong bì thư ký hiệu “T1” được niêm phong gửi giám định: Trên 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng có tìm thấy chất ma túy bám dính, loại Ketamine, không xác định được khối lượng mẫu.
  • Trong 01 phong bì thư ký hiệu “KX01” được niêm phong gửi giám định: Trên 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng có tìm thấy chất ma túy bám dính, loại Ketamine, không xác định được khối lượng mẫu.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 12/9/2024 đối với Nguyễn Văn Đ, Vi Quốc H, Giáp Khánh D đều dương tính với ma túy MDMA, MET, KET.

Tại Bản cáo trạng số 41/CT-VKS ngày 21 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố Vi Quốc H, Nguyễn Văn Đ, Giáp Khánh D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo Vi Quốc H, Nguyễn Văn Đ, Giáp Khánh D khai nhận diễn biến sự việc như bản Cáo trạng đã nêu, thừa nhận cùng bàn bạc, cùng nhau góp tiền mua ma túy về sử dụng chung. Các bị cáo không có ý kiến gì đối với tội danh, điểm, điều, khoản mà Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo Điều tự nguyện đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu 02 điện thoại của bị cáo để nộp ngân sách Nhà nước.

Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Các bị cáo nhất trí, không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi, nhân thân của các bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Bị cáo Vi Quốc H từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 13/9/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Bị cáo Giáp Khánh D từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) vỏ túi nilon mầu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền mầu xanh và 01 (một) thẻ ngân hàng V mang tên “VI QUOC HOANG” trong phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu “KT”.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) vỏ túi nilon mầu trắng và 01 (một) vỏ lon Cocacola màu đỏ trong phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu “KT1”.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bật lửa gas màu đỏ, 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “Thăng Long” màu vàng.

Trả lại bị cáo Giáp Khánh D 01 (một) căn cước công dân và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng, có số IMEI: "354506120302383".

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi 5G có số IMEI: “865726057401188” và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu xám, có số IMEI: “35380108550379” của bị cáo Nguyễn Văn Đ.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại Iphone 8 Plus màu vàng có số IMEI: “35611409475851” của bị cáo Vi Quốc H.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) loa nhãn hiệu Hopestan, 01 (một) loa màu đen, thân trên màu trắng, 01 (một) đèn nháy.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng trong phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu “T1” và 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng trong phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu "KX01".

Về án phí: Bị cáo Điều phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo D, bị cáo H được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều hợp pháp. Chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều hợp pháp. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
  2. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng:

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, những người vắng mặt đã có lời khai thể hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ, nên vắng mặt họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

  3. Về tội danh:

    Căn cứ vào lời khai của các bị cáo, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kết quả khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, kết quả giám định ma túy, kết quả xét nghiệm chất ma túy và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa đủ căn cứ xác định:

    Khoảng 16 giờ ngày 12/9/2024, tại phòng phía sau tầng 2 số nhà A, đường H, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Văn Đ, Vi Quốc H và Giáp Khánh D bàn bạc, thống nhất góp tiền mua ma túy để cùng sử dụng. Điều ứng ra 800.000 đồng để H đi mua ma túy. H đi mua 01 viên ma túy MDMA và 01 gói ma túy Ketamine của người không quen biết rồi mang về sơ chế, cùng nhau tổ chức sử dụng hết số ma túy đã mua.

    Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép ma túy với lỗi cố ý, đã xâm phạm chính sách độc quyền về quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội nên đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

    Các bị cáo cùng góp tiền để mua ma túy về sử dụng, chuẩn bị công cụ, phương tiện để cùng sử dụng ma túy nên đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo theo tình tiết định khung “Đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

    Do vậy, Cáo trạng số 41/CT-VKS ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang truy tố các bị cáo theo tội danh, điều, khoản, điểm trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  4. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Về nhân thân: Các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự.

    Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có.

    Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đầu thú, bị cáo D có ông nội được thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

  5. Vai trò của các bị cáo:

    Các bị cáo cùng cố ý phạm tội nhưng không có sự phân công nhiệm vụ cụ thể, cấu kết chặt chẽ nên đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Bị cáo H là người tích cực nhất khi thực hiện hành vi mua, chuẩn bị công cụ, sơ chế ma túy, đưa cho các bị cáo khác sử dụng nên có vai trò cao nhất trong vụ án. Bị cáo Đ là người ứng trước tiền ra để H mua ma túy và bị cáo D là người khởi xướng sử dụng ma túy nên giữ vai trò ngang nhau sau bị cáo H. Do đó, cần căn cứ vào Điều 58 Bộ luật Hình sự để xử phạt theo mức độ tham gia phạm tội của các bị cáo như đã nêu trên.

  6. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội, cần phải xử lý nghiêm các bị cáo bằng pháp luật hình sự, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời răn đe, ngăn ngừa các hành vi phạm tội khác. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả tội phạm, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò của các bị cáo, xét thấy mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đề nghị là phù hợp, cần căn cứ để xử phạt các bị cáo.
  7. Hình phạt bổ sung: Các bị cáo cùng nhau góp tiền để tự tổ chức sử dụng ma túy, không có mục đích vụ lợi và hình phạt chính đã đủ để răn đe các bị cáo nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
  8. Về xử lý vật chứng:

    Đối với 01 (một) vỏ túi nilon mầu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền mầu xanh, 01 (một) thẻ ngân hàng V mang tên “VI QUOC HOANG”, 01 (một) vỏ túi nilon mầu trắng, 01 (một) vỏ lon Cocacola, 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “Thăng Long” màu vàng, 01 (một) bật lửa gas màu đỏ là đồ vật liên quan đến hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

    Đối với các tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, 10.000 đồng hoàn lại sau giám định là công cụ dùng vào việc phạm tội nhưng đang có giá trị lưu hành nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

    Đối với 01 (một) căn cước công dân và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng, có số IMEI: “354506120302383” của bị cáo D không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

    Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi 5G có số IMEI: “865726057401188” và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu xám, có số IMEI: “35380108550379” của bị cáo Điều cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo đề nghị của bị cáo tại phiên tòa.

    Đối với 01 (một) điện thoại Iphone 8 Plus màu vàng có số IMEI: “35611409475851”, bị cáo Vi Quốc H sử dụng để liên lạc mua ma túy về sử dụng, phát nhạc khi sử dụng ma túy, vẫn còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

  9. Vấn đề khác:

    Chị Phạm Thị Thanh H1 cho bị cáo Đ thuê nhà số A, đường H, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang khai không biết việc Điều, D, H tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra không có chứng cứ nào khác nên không có căn cứ xử lý H1 về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

    Anh Trần Tiến P có mặt tại thời điểm các bị cáo sử dụng ma túy và cho H mượn xe mô tô, nhưng không bàn bạc, không đóng tiền mua ma túy, không sử dụng ma túy, không biết việc H mượn xe mô tô để đi mua ma túy. Ngoài ra không có chứng cứ nào khác nên không có căn cứ xử lý Phan về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

  10. Về án phí: Bị cáo Điều phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo D, bị cáo H là đồng bào dân tộc thiểu số cư trú tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  11. Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên quyền kháng cáo cho các bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
  12. Cần tạm giam các bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án, để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Vi Quốc H 07 (bảy) năm 05 (năm) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 13/9/2024.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 13/9/2024.

    Xử phạt bị cáo Giáp Khánh D 07 (bảy) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 13/9/2024.

  2. Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy 01 (một) vỏ túi nilon mầu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền mầu xanh và 01 (một) thẻ ngân hàng V mang tên “VI QUOC HOANG” trong phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu “KT”.

    Tịch thu tiêu hủy 01 (một) vỏ túi nilon mầu trắng và 01 (một) vỏ lon Cocacola màu đỏ trong phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu “KT1”.

    Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bật lửa gas màu đỏ; 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “Thăng Long” màu vàng.

    Trả lại bị cáo Giáp Khánh D 01 (một) căn cước công dân mang tên Giáp Khánh D và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng, có số IMEI: "354506120302383".

    Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi 5G có số IMEI: “865726057401188”; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu xám, có số IMEI: “35380108550379"; 01 (một) điện thoại Iphone 8 Plus màu vàng có số IMEI: “35611409475851”; 01 (một) loa nhãn hiệu Hopestan; 01 (một) loa màu đen, thân trên màu trắng; 01 (một) đèn nháy.

    Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 (Mười nghìn) đồng trong phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu “T1” và 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2.000 (Hai nghìn) đồng trong phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu “KX01”.

    (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 31/QĐ-VKS ngày 21/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang và Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản kèm theo ngày 21/02/2025).

  3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ, khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Giáp Khánh D và Vi Quốc H.
  4. Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - CA tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - UBND xã/phường nơi các bị cáo cư trú;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 40/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt tù giam đối với các bị cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger