|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG-THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 40/2025/HS-ST Ngày: 05-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Út và bà Nguyễn Thị Minh Trâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Uyên Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy D - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân TP. Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 248/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 10-02-2025 đối với:
1. Bị cáo: Phạm Văn N, sinh năm 1994 tại Bình Phước; Nơi cư trú: Tổ A, ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn T và bà Ngô Thị H; Có 01 con; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10-9-2024, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực P - T - Trại tạm giam Công an tỉnh N (có mặt).
2. Bị hại: Ông Phạm Hữu T1, sinh năm: 1977 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm: 1977 (có mặt).
Cùng nơi cư trú: Khu phố E, phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ông Trần Tuấn A được Ủy ban nhân dân thành phố P - T cho thuê quyền sử dụng, vận hành và khai thác Đài quan sát công viên biển B với mục đích kinh doanh dịch vụ ăn uống và làm bãi giữ xe. Sau đó, ông A đã giao cho Phạm Văn N quản lý và bảo vệ khu vực trên. Thấy ông Phạm Hữu T1 và bà Nguyễn Thị Đ (chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn) bán hàng rong gây ồn ào, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh dịch vụ trong khu vực trên nên N đã nhắc nhở nhiều lần. Cũng chính vì thế mà giữa ông T1 và N đã xảy ra mâu thuẫn.
Vào khoảng 22 giờ ngày 24-7-2024, sau khi nhậu xong N đi kiểm tra quanh khu vực Đài quan sát thì thấy ông Phạm Hữu T1 và bà Nguyễn Thị Đ đang nằm trên 01 chiếc võng ở bãi dương gần khu vực Đ quan sát. Nghĩ đến mâu thuẫn trước đây với ông T1, N đã nảy sinh ý định đánh vợ chồng ông T1 để trả thù. Lúc này, N đi tới khu vực đang thi công gần đó lấy ống tuýp bằng kim loại (màu trắng bạc, dài 101,5cm, đường kính ống là 0,3cm), rồi quay lại vị trí ông T1, bà Đ đang nằm nghỉ và đánh nhiều cái vào người ông T1 và bà Đ. Bị đánh bất ngờ nên ông T1 và bà Đ không kịp bỏ chạy mà chỉ nằm trên võng dùng tay, chân chống đỡ, đến khi thấy bà Đ ngã xuống võng thì N mới dừng lại, cầm ống sắt quay về Đ quan sát. Thấy ông T1 và bà Đ bị thương nên người dân đã trình báo với Cơ quan Công an, đồng thời đưa ông T1 và bà Đ đến Bệnh viện đa khoa tỉnh N điều trị.
Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 199/KLTTCT-TTGĐYK-PY, ngày 21/8/2024 của Trung tâm Giám định Y khoa - Pháp y tỉnh N, kết luận đối với thương tích của Nguyễn Thị Đ là:
- + Sưng nề vùng gối phải, vết mổ mặt trên gối phải sẹo liền kích thước (10,5x0,2)cm. (02%)
- + Vết mổ dọc 1/3 giữa mặt sau cẳng tay trái sẹo liền kích thước (7x0,1)cm. (02%)
- + Vết mổ mặt sau 1/3 giữa cẳng tay phải sẹo liền kích thước (7x0,1)cm (02%)
- + Gãy 1/3 giữa xương trụ trái chưa có can hoàn toàn, còn phương tiện kết hợp xương (06%)
- + Gãy 1/3 giữa sương trụ phải chưa có can hoàn toàn, còn phương tiện kết hợp xương (06%)
- + Vỡ xương bánh chè phải chưa có can hoàn toàn, còn phương tiện kết hợp xương (02%)
- Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị Đ tại thời điểm giám định là: 19%, áp dụng phương pháp cộng tại thông tư.
Cơ chế hình thành vết thương: Vết thương qua điều trị nhận định do vật tày gây nên.
Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 200/KLTTCT-TTGĐYK-PY, ngày 21/8/2024 của Trung tâm Giám định Y khoa - Pháp y tỉnh N, kết luận đối với thương tích của Phạm Hữu T1 là:
- + Vết thương trùng vết mổ mặt sau khuỷu tay trái sẹo liền tốt kích thước (7,5x0,6)cm (03%), khuỷu tay hết sưng nề, vận động hạn chế.
- + Vết mổ dọc mặt sau 1/3 giữa cẳng tay phải sẹo liền tốt kích thước (12x0,2)cm (02%), cẳng tay vận động hạn chế, hết sưng nề.
- + Vết thương dọc mặt trước 1/3 giữa cẳng chân phải sẹo liền tốt kích thước (2x0,2)cm (01%)
- + Mu bàn tay phải còn sưng nề, đau khi thăm khám (00%)
- + Bàn chân trái hết sưng nề, đau khi thăm khám (00%)
- + Cẳng chân trái hết sưng nề, vận động đi lại bình thường (00%)
- + Hai vai không phát hiện dấu tích, vận động khớp vai hai bên bình thường (00%)
- + Vùng ngực không phát hiện dấu tích (00%)
- + Gãy xương mỏm khuỷu tay trái chưa có can hoàn toàn, còn phương tiện kết hợp xương (06%)
- + Gãy 1/3 giữa xương trụ phải chưa có can hoàn toàn, còn phương tiện kết hợp xương (06%)
- Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Hữu T1 tại thời điểm giám định là: 17%, áp dụng phương pháp cộng tại thông tư.
Cơ chế hình thành vết thương: Vết thương qua điều trị nhận định do vật tày gây nên.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến, hay khiếu nại gì về Kết luận giám định nêu trên.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, ông Phạm Hữu T1 và bà Nguyễn Thị Đ đề nghị về hình sự: xét xử theo quy định của pháp luật; về dân sự: Ông T1 và bà Đ đã nhận 35.000.000đông và yêu cầu bị cáo bồi thường thêm số tiền 200.000.000đồng (ông T1 là 50.000.000đồng, bà Đ là 150.000.000đồng).
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng số 239/CT-VKSPR ngày 29-11-2024 của Viện kiểm sát thành phố P - T: Đê nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Cố ý gây thương tích”; căn cứ: điểm d khoản 3 Điêu 134; Điểm b, s khoản 1, 2 Điêu 51; Điêu 54 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Văn N từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Và áp dụng biện pháp tư pháp để xử lý vật chứng và thoả thuận bồi thường thiệt hại giữa bị cáo và bị hại.
Bị cáo không tranh luận; Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và bị cáo xin lỗi bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P – T, Điêu tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyên, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Do không hài lòng ông Phạm Hữu T1 và bà Nguyễn Thị Đ bán hàng rong trong khu vực Phạm Văn N quản lý, bảo vệ, nên vào khoảng 22 giờ ngày 24-7-2024 tại bãi dương gần khu vực Đ quan sát, thuộc khu phố F, phường M, thành phố P - T, Phạm Văn N đã dùng ống kim loại là hung khí nguy hiểm đánh ông Phạm Hữu T1 gây tổn thương cơ thể là 17% và đánh bà Nguyễn Thị Đ gây tổn thương cơ thể là 19%.
Hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm d khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 239/CT-VKSPR ngày 29-11-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội và nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có đây đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người bị hại, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội nên cần phải có hình phạt tương xứng với hậu quả mà bị cáo gây ra, cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nhân thân tốt.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; có cha là người có thành tích xuất sắc trong công tác nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điêu 51 Bộ luật Hình sự.
Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
[4] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 ống sắt màu trắng bạc, bằng kim loại có kích thước 101,5cm, đường kính ống 3cm, là công cụ phạm tội cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 12, màu đỏ đã qua sử dụng, quá trình điều tra xác định là tài sản của Phạm Văn N, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho Nghĩa là phù hợp.
Đối với 01 Chiếc võng màu xanh dài 210cm, một đầu dây dài 180cm, đầu dây còn lại dài 183 cm và 01 đôi dép xốp, màu đen trắng là tài sản của ông Phạm Hữu T1, Quá trình điều tra, xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, nên Cơ quan điều tra trả lại cho ông T1 là phù hợp.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, các bị hại yêu cầu bị cáo Phạm Văn N bồi thường số tiền 562.837.644 đồng, gồm:
- + Chi phí điều trị thương tích của 02 vợ chồng: 14.887.644 đồng
- + Chi phí thuê người chăm sóc: 90.000.000 đồng
- + Chí phí ăn uống của 02 vợ chồng và người chăm sóc: 10.000.000 đồng
- + Chi phí mua thuốc bên ngoài: 6.750.000 đồng
- + Chi phí các lần tái khám và thuê xe đi lại để tái khám là: 8.000.000 đồng
- + Chị phí mất ngày công lao động của 02 vợ chồng: 126.000.000 đồng
- + Chi phí bồi thường tổn thất tinh thần: 187.200.000 đồng
- + Chi phí cấp dưỡng cho 02 đứa con: 120.000.000 đồng.
Bị cáo không đồng ý bồi thường số tiền 562.837.644 đồng.
Ông Phạm Hữu T1 và bà Nguyễn Thị Đ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Trước khi mở phiên toà, ông T1 và bà Đ đã thay đổi mức bồi thường xuống còn 235.000.000đồng, Ông T1 và bà Đ đã nhận số tiền 35.000.000đồng, số tiên còn lại ông T1, bà Đ yêu câu là: ông T1 yêu câu bồi thường 50.000.000 đồng và bà Đ yêu câu bồi thường 150.000.000đông.
Tại phiên toà, bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại ông Phạm Hữu T1 và bà Nguyễn Thị Đ số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).
[7] Đối với ông Trần Tuấn A, ông A chỉ giao cho Phạm Văn N làm nhiệm vụ, quản lý, bảo vệ khu vực Đài quan sát, việc N có hành vi gây thương tích cho vợ chồng ông T1, ông A hoàn toàn không biết, vì vậy Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý.
[8] Về án phí: Bị cáo Phạm Văn N bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Tại phiên tòa, bị hại, bị cáo thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại thì bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về số tiên bồi thường thiệt hại.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, các bị hại được quyên kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm d khoản 3 Điêu 134; Điểm b, s khoản 1, 2 Điêu 51; Điêu 54 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn N 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam ngày 10-9-2024.
Căn cứ: Điêu 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điêu 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) ống sắt bằng kim loại màu trắng bạc, có chiều dài là 101,5cm, đường kính ống 03cm theo Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, vật chứng ngày 17-01-2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P – T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang – T.
Căn cứ: Điều 585, 586 và 589 Bộ luật Dân sự;
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phạm Văn N đồng ý bồi thường cho ông Phạm Hữu T1 số tiên 50.000.000đồng (năm mươi triệu đồng) và bà Nguyễn Thị Đ số tiên 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Căn cứ: Điêu 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điêu 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về án phí: Bị cáo Phạm Văn N phải chịu 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 10.000.000đồng (mười triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai; bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Vân |
Bản án số 40/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về hình sự: cố ý gây thương tích
- Số bản án: 40/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn N phạm tội Cố ý gây thương tích
