Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2025/DS-PT

Ngày 04 tháng 3 năm 2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng

đất."

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Chuyền

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng, ông Phạm Văn Tú

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thương Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên trung cấp.

Trong các ngày 04 và 05/3/2015 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 237/2024/TLPT- DS ngày 12 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” do Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DS- ST ngày 12/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Sơn Động bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 314/2024/QĐ-PT ngày 09 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 464/2024/QĐ-PT ngày 25/12/2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 26/2025/QĐ-PT ngày 23/01/2025, Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 20/2025/TB-TA ngày 18/02/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1975. Nơi cư trú: TDP M, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn T: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1976. Nơi cư trú: TDP M, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Trần Văn T: Ông Giáp Tuấn T5, Luật sư, Công ty L3 trách nhiệm hữu hạn GTT.VN, địa chỉ: số B Đ, phường N, TP B, tỉnh Bắc Giang.

Bị đơn:

  1. Ông Phạm Tuấn N, sinh năm 1962;
  2. Bà Tạ Thị Hồng L, sinh năm 1968.

Cùng nơi cư trú: Số Nhà F, đường T, tổ F, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

  1. Chị Ngô Thị Mai H, sinh năm 1983. Nơi cư trú: Số nhà E, ngõ A, đường N, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  2. Bà Dương Thị B, sinh năm 1965. Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của chị H, bà B: Ông Ngô Quốc B1, sinh năm 1956, Nơi cư trú: số C, đường Đ, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Triệu Thị T2, sinh năm 1978,
  2. Chị Trần Thị P, sinh năm 1999;

Người đại diện của bà T2 và chị P: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1976;

Cùng địa chỉ: TDP M, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

  1. Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện: Ông Phạm Văn T3 - Chức vụ: Chủ tịch UBND, vắng mặt

Địa chỉ: TDP Đ, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

  1. Ông Ngô Quốc B1, sinh năm 1956. Nơi cư trú: số C, đường Đ, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  2. Bà Phạm Thị D, sinh năm 1958. Địa chỉ: thôn T, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
  3. Ủy ban nhân dân huyện S, do ông Ngọc Đức V, chức vụ: Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện S làm đại diện.
  4. Văn phòng C (nay là Văn phòng C), do ông Trần Vương T4 – Trưởng Văn phòng làm đại diện;

Địa chỉ: A, đường H, phường H, TP B, tỉnh bắc Giang.

(Bà Nguyễn Thị T1, bà Tạ Thị Hồng L, ông Ngô Quốc B1, Luật sư Giáp Tuấn T5 có mặt; các đương sự khác vắng mặt)

Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Trần Văn T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Căn cứ hồ sơ vụ án thì nội dung vụ án được xác định như sau:

Nguyên đơn là ông Trần Văn T trình bày:

Gia đình ông có 02 thửa đất trồng cây lâu năm ở thôn Đ, xã T (nay là TDP M, T8), huyện S, tỉnh Bắc Giang. Nguồn gốc thửa đất là bố mẹ ông khai hoang mà có. Năm 1999, được Ủy ban nhân dân huyện S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận là 00035-QSDĐ/H, ngày 18/07/1999, thuộc thửa số 68 và số 69, tờ bản đồ 01, tổng diện tích là 7.389m², đứng tên hộ ông Trần Văn T. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gia đình ông tiếp tục khai hoang, mở rộng diện tích thêm 4.527,9m² để quản lý, sử dụng. Diện tích này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại thời điểm cấp GCNQSDĐ, hộ gia đình ông gồm có 03 thành viên là ông – Trần Văn T, vợ Triệu Thị T2, con Trần Thị P. Toàn bộ quyền sử dụng thửa đất số 68, 69 tờ bản đồ số 01 là tài sản chung của hộ gia đình do ông đại diện đứng tên trên GCNQSDĐ.

Tháng 02/2005, vợ chồng ông có chuyển nhượng 3.500m² đất thuộc thửa đất số 68, 69 (trong đó có 2.200m² trong thửa số 68 và 1.300m² đất trong thửa đất số 69) cho ông Ngô Quốc B1 và ông Phạm Tuấn N với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng). Diện tích còn lại thì vợ chồng ông không chuyển nhượng, tài sản trên cả 02 thửa đất chưa kiểm kê, chưa chuyển nhượng.

Sau khi thỏa thuận, ký kết hợp đồng ông đã bàn giao thửa đất và tài sản trên đất cho ông Phạm Tuấn N trên thực địa, có chỉ dẫn cụ thể mô mốc, ranh giới thửa đất cho ông N quản lý, sử dụng. Tuy nhiên không đo đạc cụ thể. Phía ông N đã trả đủ tiền cho ông. Sau khi bàn giao đất, phía ông N đã toàn quyền quản lý, sử dụng thửa đất. Hai bên không có tranh chấp với nhau về hợp đồng cũng như ranh giới thửa đất.

Khi chuyển nhượng hai bên chỉ viết giấy viết tay, ông B1 và ông N giữ giấy này, sau đó ông có đưa bản gốc GCNQSDĐ cho ông B1 để làm thủ tục đo đạc, tách thửa theo quy định của pháp luật nhưng không hiểu vì lý do gì mà ông B1, ông N không đo, không tách thửa. Ông nhiều lần yêu cầu ông B1 tách đất để trả bản gốc GCNQSDĐ cho ông nhưng ông B1 đưa ra nhiều lý do để không trả ông.

Khoảng tháng 10/2017, ông N, ông B1 đến gặp ông nhờ ông ký một số giấy tờ liên quan đến việc bồi thường đối với diện tích đất ông đã chuyển nhượng cho ông B1 và ông N nói trên, khi đó ông B1 chỉ nói là ký giấy để ông N nhận tiền bồi thường phần đất đã mua của vợ chồng ông, vì tin tưởng ông B1 nên ông đã ký hết các giấy tờ mà ông B1 đưa mà không xem nội dung. Đầu năm 2018, khi cán bộ huyện S đến làm việc với ông thì ông mới biết bản hợp đồng mà ông B1 nộp cho cơ quan nhà nước khi làm thủ tục bồi thường GPMB là bản hợp đồng ghi tên bên nhận chuyển nhượng là bà Ngô Thị Mai H và bà Dương Thị B, ông không giao dịch cũng như không biết bà H và bà B là ai.

Cuối năm 2021, ông mới thu thập được bản photo của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông và ông Phạm Tuấn N và hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông và bà H, bà B do ông B1 nộp cho cơ quan nhà nước.

Ông xác định vợ chồng ông chỉ chuyển nhượng cho ông Phạm Tuấn N và vợ là Tạ Thị Hồng L1 3.500m² thuộc thửa số 68 và 69 tờ bản đồ 01. Riêng hợp đồng ký kết giữa ông và chị Ngô Thị Mai H bà Dương Thị B là do ông B1, ông N cầm đến cho ông ký, ông cũng không đến UBND xã T để chứng thực hợp đồng.

Năm 2017, toàn bộ thửa đất số 68, 69, tờ bản đồ 01 nêu trên đã bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thu hồi đất để xây dựng khu du lịch tâm linh T; hiện nay thửa đất đã bị san ủi mặt bằng nên không còn mốc giới cụ thể của diện tích thửa đất đã chuyển nhượng trên thực địa.

Khi thu hồi đất, ông không biết là mình bị thu hồi thừa. Ông chỉ biết có việc ông Ngô Quốc B1 và ông Phạm Tuấn N đến gặp ông đề nghị mượn chứng minh nhân dân, đề nghị ông ủy quyền để ông B1, ông N đi nhận tiền bồi thường đối với diện tích đất đã chuyển nhượng. Số tiền được bồi thường là bao nhiêu, ông không biết. Ông B1, ông N đã nhận toàn bộ số tiền bồi thường diện tích đất thuộc thửa số 68, 69 và diện tích gia đình ông khai hoang là 4.527m² mà không thanh toán lại cho ông đồng nào.

Ông yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa giữa vợ chồng ông với ông Phạm Tuấn N, bà Tạ Thị Hồng L1 ngày 05/7/2011 về việc chuyển nhượng diện tích 3.500m² đất là thửa số 68, 69, tờ bản đồ số 01 là có hiệu lực pháp luật. Yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa ngày 06/02/2005 giữa vợ chồng ông với chị Ngô Thị Mai H, bà Dương Thị B về việc chuyển nhượng diện tích 3.500m² đất thuộc thửa 68, 69, tờ bản đồ số 01 là vô hiệu do giả tạo, trái pháp luật và vi phạm quy định về hình thức.

Ông đã được Tòa án giải thích quy định của pháp luật về hậu quả của hợp đồng vô hiệu, tuy nhiên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Ông T rút yêu cầu khởi kiện về việc đề nghị tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được chứng thực ngày 05/7/2011 giữa ông Trần V1, bà Triệu Thị T2 với ông Phạm Tuấn N, bà Tạ Thị Hồng L là vô hiệu; giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký kết giữa ông T, bà T2 với chị Ngô Thị Mai H, bà Dương Thị B vô hiệu.

Bị đơn ông Phạm Tuấn N trình bày: Năm 2005, vợ chồng ông có thỏa thuận về việc nhận chuyển nhượng 01 thửa đất trồng cây lâu năm và một số thửa đất ruộng của vợ chồng ông Trần Văn T và bà Triệu Thị T2. Việc thỏa thuận có lập thành hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06/02/2005, có chữ ký của ông T, bà T2 và chữ ký của vợ chồng ông, có xác nhận UBND xã T (nay là TT T) vào ngày

10/02/2005. Nội dung thỏa thuận ông T, bà T2 đồng ý chuyển nhượng cho vợ chồng ông diện tích 4.195m² và toàn bộ số cây trồng trên đất. Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00035- QSDĐ/H, do UBND huyện S cấp ngày 18/7/1999, đứng tên hộ ông Trần Văn T. Trong Hợp đồng đã xác định rõ ranh giới tứ cận của thửa đất. Giá chuyển nhượng là 21.000.000đ.

Sau khi ký kết hợp đồng, vợ chồng ông đã được ông T bàn giao thửa đất và tài sản trên thực địa. Vợ chồng ông cũng đã thanh toán đầy đủ số tiền 21.000.000đ tiền mặt theo thỏa thuận cho vợ chồng ông T. Việc bàn giao đất trên thực địa có xác định rõ ranh giới, mô mốc thửa đất như trong Hợp đồng nhưng không đo đạc cụ thể để xác định diện tích trên thực địa là bao nhiêu mà chỉ căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện là 4.195 m². Diện tích thực tế thừa thiếu bao nhiêu cả vợ chồng ông và ông T, bà T2 đều không biết.

Từ khi được bàn giao đất, gia đình ông đã tiến hành canh tác trồng keo và cây ăn quả trên đất. Quá trình quản lý, sử dụng không có tranh chấp gì. Năm 2012, vợ chồng ông đã chuyển nhượng lại thửa đất cho bà Phạm Thị D, sinh năm 1958, địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Việc chuyển nhượng chỉ làm hợp đồng là giấy viết tay, các bên cùng ký giấy, có Trưởng thôn Thượng Tùng, xã L chứng kiến, không công chứng, chứng thực hợp đồng. Sau khi ký kết hợp đồng thì vợ chồng ông bàn giao đất cho bà D quản lý, sử dụng.

Năm 2009, chính quyền địa phương thực hiện việc đo đạc hiện trạng quản lý để xây dựng bản đồ địa chính. Năm 2010, Bản đồ địa chính xã T (nay là TT T) được phê duyệt. Ông cũng đã được đo đạc diện tích nhận chuyển nhượng của ông T là thửa số 5, tờ bản đồ 79, diện tích 6.099,1m² đứng tên người sử dụng đất là Phạm Tuấn N. Diện tích này chênh lệch so với diện tích ghi trong hợp đồng (4.195m²) là 1.904,1m².

Năm 2014 và năm 2017, nhà nước thực hiện thu hồi đất để làm đường và xây dựng khu du lịch tâm linh, sinh thái T. Thửa đất số 5, tờ bản đồ 79 được đo đạc lại xác định diện tích là 6.520,8m², thu hồi 5.716,3m², diện tích còn lại chưa bị thu hồi gia đình bà Phạm Thị D hiện vẫn đang quản lý, sử dụng là 804,5m².

Hợp đồng vợ chồng ông ký kết nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông T bà T2 được xác lập vào ngày 06/02/2005, được chứng thực ngày 10/02/2005, không phải là hợp đồng đề ngày 05/7/2011 như bản phô tô mà ông T giao nộp. Việc thỏa thuận ký kết hợp đồng chuyển nhượng của các bên là hoàn toàn tự nguyện. Gia đình ông đã quản lý, sử dụng đất ổn định, lâu dài, không có tranh chấp. Sau đó, vợ chồng ông cũng đã chuyển nhượng lại thửa đất cho bà D, không còn quyền lợi đối với thửa đất đó nữa. Năm 2014, ông T là Trưởng thôn Đ còn là thành viên trong tổ kiểm kê tài sản khu đất thu hồi để thực hiện dự án làm đường B, khi kiểm kê đất ông T đi cùng tổ công tác để chỉ diện tích đất đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông và

không có ý kiến gì đối với diện tích đất là 6.099,1m² mà gia đình ông quản lý, sử dụng. Ông T đã ký vào biên bản kiểm kê của Tổ công tác theo Quyết định số 959/QĐ-UBND, ngày 07/4/2014. Nay ông T yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với vợ chồng ông, ông đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của vợ chồng ông.

Giữa vợ chồng ông và vợ chồng ông T chỉ có giao dịch ký kết 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất duy nhất vào ngày 06/02/2005. Ngoài ra không có bất cứ hợp đồng nào khác. Hợp đồng chuyển nhượng được UBND xã T chứng thực ngày 05/7/2011 vợ chồng ông hoàn toàn không biết, chữ ký trong hợp đồng này không phải của vợ chồng ông.

Bị đơn là bà Tạ Thị Hồng L trình bày: Bà L thống nhất với ý kiến của ông Phạm Tuấn N.

Người đại diện của bị đơn bà Dương Thị B, chị Ngô Thị Mai H là ông Ngô Quốc B1 trình bày:

Năm 2005, bà Dương Thị B và chị Ngô Thị Mai H có ủy quyền cho ông đại diện đứng ra thỏa thuận, giao dịch mua bán, chuyển nhượng thửa đất trồng cây ăn quả với ông Trần Văn T, bà Triệu Thị T2. Ông và ông Phạm Tuấn N cùng đến nhà ông T để thỏa thuận về việc nhận chuyển nhượng thửa đất trồng cây lâu năm số 68, 69, tờ bản đồ 01 của vợ chồng ông T, bà T2. Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00035/QSDĐ, do UBND huyện S cấp ngày 18/7/1999, đứng tên hộ ông Trần Văn T. Việc thỏa thuận có lập thành hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06/2/2005, có chữ ký của bên chuyển nhượng là ông Trần Văn T, bà Triệu Thị T2 và chữ ký của bên nhận chuyển nhượng là chị H, bà B, có xác nhận của UBND xã T (nay là TT T). Nội dung thỏa thuận ông T, bà T2 đồng ý chuyển nhượng cho chị H, bà B một nửa diện tích thửa đất số 68,69, tờ bản đồ 01, địa chỉ thôn Đ, xã T (nay là TDP M, T8), huyện S, tỉnh Bắc Giang là 3.500m² và toàn bộ số cây trồng trên đất. Giá chuyển nhượng là 21.000.000đ.

Sau khi ký kết hợp đồng, vợ chồng ông T đã bàn giao thửa đất và toàn bộ cây trồng trên đất cho bà B, chị H do ông làm đại diện. Ông cũng đã thanh toán đầy đủ số tiền 21.000.000₫ theo thỏa thuận cho vợ chồng ông T. Việc bàn giao đất trên thực địa có xác định rõ ranh giới, mô mốc thửa đất nhưng không đo đạc cụ thể để xác định diện tích trên thực địa là bao nhiêu mà chỉ căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 7000 m², bán cho bà B, chị H một nửa thửa đất là 3.500m2. Diện tích thực tế thừa thiếu bao nhiêu bên bán, bên mua đều không nắm được.

Từ khi được bàn giao đất, phía bà B, chị H đã tiến hành canh tác trồng keo trên đất. Quá trình quản lý, sử dụng không có tranh chấp gì. Tuy nhiên khi làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Chính quyền địa phương thông báo đất nằm trong diện quy hoạch để mở đường nên không làm thủ tục sang tên cho bà

B, chị H. Năm 2009, chính quyền địa phương thực hiện việc đo đạc hiện trạng quản lý để xây dựng bản đồ địa chính. Năm 2010, Bản đồ địa chính xã T (nay là TT T) được phê duyệt. Bà B, chị H cũng đã được đo đạc diện tích nhận chuyển nhượng của ông T là thửa số 117, tờ bản đồ 79, diện tích 6.025,2m² đứng tên người sử dụng đất là Ngô Quốc B1 (do ông nhận ủy quyền của bà H, bà B). Diện tích này chênh lệch so với diện tích ghi trong hợp đồng (3.500m²) là 2.525,2m².

Năm 2014 và năm 2017, nhà nước thực hiện thu hồi đất để làm đường và xây dựng khu du lịch tâm linh, sinh thái T. Thửa đất số 117, tờ bản đồ 79 được đo đạc lại xác định diện tích là 6.200,6m², thu hồi 5.786,2m2, diện tích còn lại chưa bị thu hồi bà B, chị H hiện vẫn đang quản lý, sử dụng là 414,4m².

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06/02/2005 giữa ông T, bà T2 với bà B, chị H, ông xác định hợp đồng này đã được ký kết trên tinh thuần tự nguyện thỏa thuận, bà B, chị H đã nhận bàn giao thửa đất, quản lý, sử dụng từ năm 2005 đến khi nhà nước thu hồi. Ông đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi cho bà B, chị H.

Đối với yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông T, bà T2 với vợ chồng ông N, bà L. Ông xác định hợp đồng này không liên quan đến ông, bà B hay chị H nên ông không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Ngô Quốc B1 trình bày: Do có mối quan hệ thân thích nên ông được bà B, chị H ủy quyền đứng ra đàm phán với phía gia đình ông T về việc mua bán, chuyển nhượng thửa đất. Việc các bên giao dịch, ký kết và thực hiện hợp đồng không liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của ông. Do vậy, ông không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án này. Đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Triệu Thị T2, chị Trần Thị Phương trình B2 thống nhất ý kiến của ông Trần Văn T.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị D trình bày: Năm 2012, bà có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của vợ chồng ông Phạm Tuấn N và vợ Tạ Thị Hồng L 01 thửa đất ở TDP M, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Diện tích cụ thể là bao nhiêu bà không nhớ, giá chuyển nhượng là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng). Hai bên có ký kết hợp đồng viết tay, có xác nhận của ông Phạm Văn Đ, Trưởng thôn Thượng Tùng, xã L và ông Hoàng Văn Đ1, Công an viên xã L. Sau khi ký kết hợp đồng, bà đã giao tiền đầy đủ cho vợ chồng ông N. Vợ chồng ông N đã bàn giao thửa đất, tài sản trên đất cho bà quản lý, sử dụng. Bà có thực hiện cắm mốc giới với các gia đình có đất liền kề, canh tác ổn định, trồng cây trên đất. Đầu năm 2017, Nhà nước thực hiện dự án khu D nên thửa đất bị thu hồi một phần, hiện còn khoảng

800m² bà vẫn đang quản lý, sử dụng. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông với ông Phạm Tuấn N, bà Tạ Thị Hồng L1 về việc chuyển nhượng diện tích 3.500m² đất thuộc thửa số 68, 69, tờ bản đồ số 01 là có hiệu lực pháp luật, bà nhất trí.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Văn phòng C (nay là Văn phòng C) do ông Trần Vương T4 đại diện trình bày: Ngày 20/10/2017, Văn phòng C thực hiện việc chứng thực bản sao đúng với bản chính là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng là ông Trần Văn T, bên nhận chuyển nhượng là bà Ngô Thị Mai H, có đóng dấu của UBND xã T, ông Lê quang B3 là Chủ tịch ký. Ông không biết ai là người mang hợp đồng đến chứng thực. Văn phòng thực hiện việc công chứng, chứng thực đúng quy định của pháp luật. Bản sao hợp đồng Văn phòng chưa tìm được để cung cấp cho Tòa án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là UBND huyện S trình bày quan điểm: Tháng 6/2016, UBND tỉnh B quyết định phê duyệt Quy hoạch chi tiết xây dựng Khu D (viết tắt là Khu D) xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Ủy ban nhân dân huyện S đã ban hành nhiều văn bản phê duyệt phương án thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng. Số tiền kinh phí bồi thường về đất và tài sản trên đất tổng giá trị là 1.927.871.550 đồng đã được chi trả cho ông Nguyễn Hữu N1, bà Ngô Thị Mai H, ông Phạm Tuấn N, ông Ngô Quốc B1 theo giấy uỷ quyền ghi ngày 25/10/2017 và ngày 26/10/2017 giữa các ông Nguyễn Văn L2, Triệu Sinh T6, Trần Văn T, Trần Văn H1, Phạm Văn S và Trần Thị S1 đồng thời đã bàn giao mặt bằng xong.

Nay giữa ông Trần Văn T với ông Phạm Tuấn N, bà Tạ Thị Hồng L, chị Ngô Thị Mai H, bà Dương Thị Bích X ra tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Với nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động đã xử:

Căn cứ khoản 3, khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, 92 khoản 1 Điều 147, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Điều 122, 128, 129, 134, khoản 2 Điều 689- Bộ luật dân sự năm 2005. Điểm b khoản 1 Điều 127 Luật Đất đai 2003; khoản 1 Điều 26, khoản 3 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chứng thực ngày 05/7/2011 giữa ông Trần Văn T, bà Triệu Thị T2 với ông Phạm Tuấn N, bà Tạ Thị Hồng L1 về việc chuyển nhượng diện tích 3.500m2 đất thuộc thửa số 68, 69, tờ bản đồ số 01 là vô hiệu.

[2] Bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T về việc tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa ngày 06/02/2005 giữa ông Trần Văn T, bà Trần Thị T7 với chị Ngô Thị Mai H, bà Dương Thị B về việc chuyển nhượng diện tích 3.500m2 đất thuộc thửa 68, 69, tờ bản đồ số 01 là vô hiệu.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo cho các bên đương sự.

Ngày 25/9/2024, nguyên đơn là ông Trần Văn T kháng cáo đề nghị hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DS- ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

+ Nguyên đơn là ông Trần Văn T do bà T1 đại diện giữ nguyên quan điểm rút một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể rút yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông T với vợ chồng ông N ký ngày 05/7/2011 vô hiệu.

Ông T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông T với bà Dương Thị B và chị Ngô Thị Mai H lập ngày 06/02/2005 vô hiệu.

Ông T thay đổi yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông về việc tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông T với bà Dương Thị B và chị Ngô Thị Mai H lập ngày 06/02/2005 vô hiệu.

Ông T xác định chỉ chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông N bà L. Ông T không biết bà B và chị H là ai. Chữ ký và chữ viết trong hợp đồng đúng là của ông, tuy nhiên không có việc ông B1 trả tiền cho ông số tiền 21.000.000 đồng thay cho bà B và chị H. Ông T cũng không bàn giao đất cho bà B và chị H.

+ Bị đơn là bà L trình bày: Bà và chồng là ông N đồng ý với việc rút phần yêu cầu khởi kiện về việc tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông T với vợ chồng bà ký ngày 05/7/2011 vô hiệu vì xác định các bên không ký kết với nhau hợp đồng này.

+ Bị đơn là bà Dương Thị B và chị Ngô Thị Mai H do ông B1 trình bày: Ông có đại diện cho bà B và chị H thực hiện giao dịch, nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông T tổng diện tích đất 3.500 m² tại thửa số 68-69, tờ bản đồ 01. Bà B và chị H chỉ ủy quyền cho ông B1 bằng lời nói, không có văn bản ủy quyền. Các bên có ký với nhau hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06/02/2005. Mẫu hợp đồng là do ông xin của cán bộ địa chính xã. Ông soạn theo mẫu rồi đưa cho bà B và chị H ký (ở thành phố B), sau đó ông mang hợp đồng đến nhà ông T để vợ chồng ông T ký, tiếp theo ông và ông T mang hợp đồng ra UBND xã T xin xác nhận. Ông đã trả cho

ông T số tiền 21.000.000 đồng, ông giao tiền cho ông N để ông N trả cho ông T. Trong hợp đồng không xác định được tứ cận của diện tích đất chuyển nhượng, không xác định được diện tích đất nhận chuyển nhượng tại mỗi thửa 68 và 69 là bao nhiêu. Ông T đã giao đất cho ông nhưng không có biên bản bàn giao đất, cũng không xác định được diện tích bàn giao cụ thể là bao nhiêu.

+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông T trình bày luận cứ và đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T về việc tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông T với bà Dương Thị B và chị Ngô Thị Mai H lập ngày 06/02/2005 vô hiệu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (viết tắt là BLTTDS).

Về nội dung vụ án, sau khi phân tích, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Căn cứ khoản 4 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự hủy một phần bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DS-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang và đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T về việc tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chứng thực ngày 05/7/2011 giữa ông Trần Văn T, bà Triệu Thị T2 với ông Phạm Tuấn N, bà Tạ Thị Hồng L về việc chuyển nhượng diện tích 3.500m² đất thuộc thửa số 68, 69, tờ bản đồ số 01 vô hiệu.
  2. Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn T, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.

Căn cứ các Điều 131, 133, 136, 138, 139, 708 của Bộ luật dân sự năm 1995. căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 06/02/2005 giữa ông Trần Văn T, bà Triệu Thị T2 với chị Ngô Thị Mai H, bà Dương Thị B về việc chuyển nhượng diện tích 3.500m² đất thuộc các thửa 68, 69, tờ bản đồ số 01 là vô hiệu.

3, Về án phí:

- Về án phí DSST: Chị Ngô Thị Mai H và bà Dương Thị B phải liên đới chịu 300.000 đồng án phí DSST.

- Về án phí DSPT: Chị Ngô Thị Mai H và bà Dương Thị B phải liên đới chịu 300.000 đồng án phí DSPT.

- Hoàn trả ông Trần Văn T tổng số tiền 600.000 đồng theo các biên lai thu số 0000780, ngày 02/11/2023 và số 0005353 ngày 25/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về việc có mặt các đương sự tại phiên tòa: Tại phiên tòa bị đơn là ông N và một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo vắng mặt không có lý do. HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vắng mặt đối với các đương sự này.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là ông Trần Văn T rút một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể rút yêu cầu về việc đề nghị Tòa án tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông T với vợ chồng ông N ký ngày 05/7/2011 vô hiệu. Nhưng cấp sơ thẩm không đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn. Bản án tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chứng thực ngày 05/7/2011 giữa ông Trần Văn T, bà Triệu Thị T2 với ông Phạm Tuấn N, bà Tạ Thị Hồng L về việc chuyển nhượng diện tích 3.500m² đất thuộc thửa số 68, 69, tờ bản đồ số 01 vô hiệu là vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T giữ nguyên quan điểm rút một phần yêu cầu khởi kiện cụ thể rút yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông T với vợ chồng ông N ký ngày 05/7/2011 vô hiệu. Bị đơn là ông Phạm Tuấn N và bà Tạ Thị Hồng L đồng ý với việc rút yêu cầu khởi kiện của ông T nên cần căn cứ khoản 4 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự hủy một phần bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DS-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang và đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện này của ông Trần Văn T.

[3] Về pháp luật áp dụng: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 156 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2020định về nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật: “1. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó.”

Căn cứ tài liệu chứng cứ là Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 06/02/2005 thì xác định thời điểm xác lập quan hệ giao dịch dân sự là ngày 06/02/2005. Khi giải quyết tranh chấp cần áp dụng các quy định pháp luật đang có hiệu lực tại thời điểm quan hệ giao dịch dân sự phát sinh, cụ thể các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan là Bộ luật dân sự năm 1995Cấp sơ thẩm áp dụng quy định pháp luật tại Bộ luật dân sự năm 2005 là chưa chính xác.

[4] Xét nội dung nội kháng cáo của ông Trần Văn T: Ông Trần Văn T kháng cáo đề nghị sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DS-ST ngày 12/9/2024 của TAND huyện Sơn Động theo hướng tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06/02/2005 giữa vợ chồng ông Trần Văn T, bà Triệu Thị T2 với bà Ngô Thị Mai H, bà Dương Thị B là vô hiệu;

[4.1] Xét hiệu lực của hợp đồng:

Về nội dung của hợp đồng: Gia đình ông T là chủ sử dụng các thửa đất số 68, 69 tờ bản đồ số 01 diện tích 7.389m² tại thôn Đ, xã T (nay là tổ dân phố M, thị trấn T), huyện S. Đất đã được UBND huyện S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00035- QSDĐ/H ngày 18/7/1999 cho hộ ông Trần Văn T. Theo ông T và ông B1 thì ông T và bà Dương Thị B và chị Ngô Thị Mai H không biết nhau. Theo hợp đồng, vợ chồng ông T là người chuyển nhượng quyền sử dụng đất; bà B và chị H là người nhận chuyển nhượng đất nhưng các bên không cùng nhau ký kết hợp đồng. Theo ông B1 thì ông là người đại diện cho bà B và chị H thực hiện giao kết hợp đồng nhưng bà B và chị H không có văn bản ủy quyền cho ông B1. Đối tượng chuyển nhượng một phần diện tích của các thửa đất số 68 và 69, nhưng các bên không xác định được chuyển nhượng bao nhiêu m² thuộc thửa đất số 68, bao nhiêu m² thuộc thửa đất số 69; không xác định được ranh giới và vị trí của diện tích đất chuyển nhượng là vi phạm Điều 708 của Bộ luật dân sự năm 1995 quy định về nội dung của hợp đồng.

Về hình thức của hợp đồng: Mặc dù hợp đồng được lập thành văn bản. Hợp đồng được UBND xã T xác nhận, nội dung xác nhận về chủ sử dụng đất, hiện trạng thửa đất và thể hiện thửa đất có đủ điều kiện để chuyển nhượng. Xác định đây không phải là lời chứng của người có thẩm quyền chứng thực việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên. Do hợp đồng không được chứng thực theo quy định nên xác định hợp đồng có vi phạm về hình thức theo quy định tại Điều 691 của Bộ luật dân sự năm 1995. Bản án sơ thẩm xác định hợp đồng có chứng thực của UBND xã T, huyện S là không đúng.

Về việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán và bàn giao quyền sử dụng đất: Theo ông B1 thì ông đã giao số tiền 21.000.000 đồng cho ông N để ông N trả tiền đất cho ông T và đã được ông T giao đất, việc trả tiền được thể hiện trong hợp đồng mà không lập thành văn bản. Tuy nhiên ông T không thừa nhận việc ông B1 đã trả ông

số tiền này, ông T cũng xác định không giao đất cho ông B1, bà B và chị H. Ông B1, bà B và chị H không cung cấp được chứng cứ chứng minh đã thanh toán tiền cho ông T và đã được bàn giao đất trên thực địa. Ông B1 cũng không xác định được vị trí và diện tích đất chuyển nhượng trên thực địa là bao nhiêu.

Do có vi phạm cả về nội dung, hình thức và nghĩa vụ thanh toán nên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ghi ngày 06/02/2005 giữa ông T, bà T2 với bà B và chị H bị vô hiệu theo quy định tại Điều 138, Điều 139 của Bộ luật dân sự năm 1995. Ông T yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này vô hiệu là có căn cứ và được chấp nhận.

Bản án sơ thẩm tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T về việc tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06/02/2005 giữa ông Trần Văn T, bà Triệu Thị T2 với chị Ngô Thị Mai H, bà Dương Thị B về việc chuyển nhượng diện tích 3.500m2 đất thuộc các thửa 68, 69, tờ bản đồ số 01 vô hiệu là không đúng và làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông T, bà T2.

[4.2] Từ phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn T, căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự để sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động theo hướng tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06/02/2005 giữa ông Trần Văn T, bà Triệu Thị T2 với chị Ngô Thị Mai H, bà Dương Thị B về việc chuyển nhượng diện tích 3.500m² đất thuộc các thửa 68, 69, tờ bản đồ số 01 là vô hiệu như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[5]. Về án phí:

- Án phí DSST: Do yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T được chấp nhận nên chị Ngô Thị Mai H, bà Dương Thị B phải chịu án phí DSST (Theo quy định tại Điều 27- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí Tòa án.

- Án phí DSPT: Do sửa bản án sơ thẩm nên bà B và chị H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 29- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí Tòa án.

- Hoàn trả ông T số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ khoản 4 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự hủy một phần bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DS-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang và đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của ông Trần

Văn T về việc tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 05/7/2011 giữa ông Trần Văn T, bà Triệu Thị T2 với ông Phạm Tuấn N, bà Tạ Thị Hồng L về việc chuyển nhượng diện tích 3.500m2 đất thuộc thửa số 68, 69, tờ bản đồ số 01, tại địa chỉ: thôn Đ, xã T (nay là TDP M, T8), huyện S, tỉnh Bắc Giang vô hiệu.

  1. Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn T, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.

Căn cứ các Điều 131, Điều 133, Điều 136, Điều 138, Điều 139, Điều 708 của Bộ luật dân sự năm 1995. Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 06/02/2005 giữa ông Trần Văn T, bà Triệu Thị T2 với chị Ngô Thị Mai H, bà Dương Thị B về việc chuyển nhượng diện tích 3.500m² đất thuộc các thửa 68, 69, tờ bản đồ số 01, tại địa chỉ: Thôn Đ, xã T (nay là TDP M, T8), huyện S, tỉnh Bắc Giang là vô hiệu.

  1. Về án phí:

- Án phí DSST: Chị Ngô Thị Mai H và bà Dương Thị B phải liên đới chịu 300.000 đồng án phí DSST.

- Án phí DSPT: Chị Ngô Thị Mai H và bà Dương Thị B phải liên đới chịu 300.000 đồng án phí DSPT.

- Hoàn trả ông Trần Văn T tổng số tiền 600.000 đồng theo các biên lai thu số 0000780, ngày 02/11/2023 và số 0005353 ngày 25/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - TAND- VKSND cấp sơ thẩm;
  • - Chi cục THADS huyện Sơn Động;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, PHCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Chuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2025/DS-PT ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 40/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger