|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2025/HS-ST
Ngày: 04-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đại.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Tiến Thịnh
- Ông Phạm Công Gia.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Tuấn – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐXXST–HS ngày 14 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:
- Nguyễn Văn N (Tên gọi khác: N tóc đỏ), sinh năm 1959, tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- + Ngày 25/5/2021, tại Bản án số 39/2021/HS-PT bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 09 tháng tù về tội Đánh bạc. Chấp hành xong hình phạt chính vào ngày 21/11/2022. Tính đến ngày 25/01/2023 thì chưa được xóa án tích.
- + Ngày 22/9/2023, tại Bản án số 111/2023/HS-PT bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 tháng tù về tội Đánh bạc. Chưa được xóa án tích.
- Phạm Văn H, sinh năm 1979, tại tỉnh Đồng Nai.
- Cao Bảo Q (Tên gọi khác: Quốc V), sinh năm 1990, tại tỉnh Đồng Nai.
Nơi cư trú: Tổ A, khu I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật; con ông Nguyễn Văn N1 (đã chết) và bà Võ Ngọc S (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1961; có 03 con, lớn sinh năm 1981, nhỏ sinh năm 1985.
Tiền án:
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 20/9/2005, tại Bản án số 472/2005/HSPT bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc và đánh bạc. Đã được xóa án tích theo các điểm d, g khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội.
Bị cáo tại ngoại (Có mặt).
Nơi cư trú: Khu E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn N2, sinh năm 1949 và bà Lê Thị T, sinh năm 1956; Vợ, con: Không.
Tiền án: Bị Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xử phạt 15.000.000 đồng về tội Đánh bạc theo Bản án số 17/2018/HS-ST ngày 12/02/2018. Theo biên bản xác minh ngày 21/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú thì xác định Phạm Văn H chưa thi hành việc đóng 15.000.000 đồng tiền phạt và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị can đóng 15.000.000 đồng tiền phạt và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngày 11/12/2023. Tính đến thời điểm ngày 14/11/2023 bị can bị bắt thì chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại (Có mặt).
Nơi cư trú: Ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; con ông Cao Tống Văn N3, sinh năm 1953 và bà Đinh Thị G, sinh năm 1958; Vợ, con: Không
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 31/3/2023, tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 71/.QĐ-XPHC bị Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc. Chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
Bị cáo tại ngoại (Có mặt).
- Người làm chứng:
- Ông Trần Quốc T1, sinh năm: 1979 (Vắng mặt). Địa chỉ: Khu G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Anh Nguyễn Nhật T2, sinh năm: 1994 (Vắng mặt). Địa chỉ: Ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Trần Bình Q1, sinh năm: 1973 (Vắng mặt). Địa chỉ: Ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Anh Phạm Xuân A, sinh năm: 1992 (Vắng mặt). Địa chỉ: Ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Anh Trần Thanh T3, sinh năm: 1993 (Vắng mặt). Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Anh Phạm Chí T4, sinh năm: 1981 (Vắng mặt). Địa chỉ: Ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Nguyễn Thành N4, sinh năm: 1979 (Vắng mặt). Địa chỉ: Ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Anh Nguyễn An L1, sinh năm: 1981 (Vắng mặt). Địa chỉ: Ấp H, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
- Anh Phạm Tuấn T5, sinh năm: 1990 (Vắng mặt). Địa chỉ: Ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Anh Nguyễn Thanh T6, sinh năm: 1988 (Vắng mặt). Địa chỉ: Ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Anh Phạm Đức T7, sinh năm: 1982 (Vắng mặt). ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Anh Phạm Đức T8, sinh năm: 1987 (Vắng mặt). Địa chỉ: Ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Bà Trần Thị H1, sinh năm: 1972 (Vắng mặt). Địa chỉ: Khu F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ ngày 14/11/2023 tại quán bida của bà Trần Thị H1 thuộc tổ B, khu F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Công an huyện T phát hiện, lập biên bản sự việc Trần Quốc T1, Phạm Xuân A, Trần Thanh T3, Phạm Chí T4, Trần Bình Q1, Nguyễn Nhật T2, Phạm Đức T8, Nguyễn An L1, Phạm Đức T7, Nguyễn Văn N, Phạm Tuấn T5, Cao Bảo Q, Phạm Văn H, Nguyễn Thanh T6, Nguyễn Thành N4 về hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền với hình thức đánh bida.
Tang vật thu giữ gồm: T9 của Trần Quốc T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu đen, 01 xe mô tô biển số 93P2-268.51, 440.000 đồng; Phạm Xuân A 9.700.000 đồng, 01 xe mô tô biển số 60B3-77621; Trần Thanh T3 2.200.000 đồng, 01 xe mô tô biển số 60B3-92825; Phạm Chí T4 2.100.000 đồng, 01 xe mô tô biển số 59S3-44903, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen; Trần Bình Q1 01 xe mô tô biển số 60H6-0972, 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamsungS23 màu xanh; Nguyễn Nhật T2 01 xe mô tô biển số 60B3-42322, 6.500.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S; Phạm Đức T8 250.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A32 màu xanh; Nguyễn An L1 4.300.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 9 màu đen, 01 xe mô tô biển số 60P1-1129; Phạm Đức T7 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia bàn phím màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, 01 xe mô tô biển số 60B3-35092; Nguyễn Văn N 3.500.000 đồng; Phạm Tuấn T5 01 xe mô tô biển số 60B3-80770, 2.900.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia bàn phím màu đen; Nguyễn Thanh T6 2.800.000 đồng; Nguyễn Thành N4 3.300.000 đồng.
Quá trình điều tra đã làm rõ được như sau:
Buổi sáng ngày 14/11/2023, Trần Quốc T1, Phạm Xuân A, Trần Thanh T3, Phạm Chí T4, Trần Bình Q1, Nguyễn Nhật T2, Phạm Đức T8, Nguyễn An L1, Phạm Đức T7, Nguyễn Văn N, Phạm Tuấn T5, Cao Bảo Q, Phạm Văn H, Nguyễn Thanh T6, Nguyễn Thành N4 đến quán bida của bà Trần Thị H1 thuộc tổ B, khu F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai để chơi bida. Tại đây, Trần Bình Q1 và Nguyễn An L1 rủ nhau đánh bida thắng thua bằng tiền. Cách thức xác định thắng thua dựa vào việc ghi điểm, ai ghi đủ 30 điểm trước thì người đó thắng. Những người khác thì đánh bạc bằng hình thức bắt cược với một người khác, rồi đặt cược dựa vào kết quả thắng thua của người chơi chính là Q1 và L1.
Cơ quan điều tra đã làm rõ số tiền đánh bạc của từng đối tượng như sau:
Nguyễn Văn N tham gia cá cược 02 trận, trận 01 là 1.000.000 đồng, trận 02 là 100.000 đồng, tổng tiền đánh bạc là 1.100.000 đồng. Phạm Văn H tham gia cá cược 01 trận với số tiền 400.000 đồng. Cao Bảo Q tham gia cá cược 01 trận với số tiền 600.000 đồng. Trần Quốc T1 tham gia cá cược 02 trận, trận 01 là 200.000 đồng, trận 02 là 740.000 đồng. Phạm Xuân A tham gia cá cược 03 trận, trận 01 là 800.000 đồng, trận 02 là 500.000 đồng, trận 03 là 350.000 đồng. Trần Thanh T3 tham gia cá cược 04 trận, trận 01 là 200.000 đồng, trận 02 là 800.000 đồng, trận 03 là 1.200.000 đồng, trận 04 là 400.000 đồng. Phạm Chí T4 tham gia cá cược 04 trận, trận 01 là 600.000 đồng, trận 02 là 700.000 đồng, trận 03 là 400.000 đồng, trận 04 là 200.000 đồng. Trần Bình Q1 tham gia cá cược 05 trận, trận 01 là 1.200.000 đồng, trận 02 là 1.200.000 đồng, trận 03 là 800.000 đồng, trận 04 là 1.100.000 đồng, trận 05 chưa xác định số tiền đánh bạc. Nguyễn Nhật T2 tham gia cá cược 03 trận, trận 01 là 600.000 đồng, trận 02 là 300.000 đồng, trận 03 là 300.000 đồng. Phạm Đức T8 tham gia cá cược 05 trận, trận 01 là 200.000 đồng, trận 02 là 500.000 đồng, trận 03 là 100.000 đồng, trận 04 là 100.000 đồng, trận 05 chưa xác định số tiền đánh bạc. Nguyễn An L1 tham gia cá cược 05 trận, trận 01 là 1.000.000 đồng, trận 02 là 500.000 đồng, trận 03 là 500.000 đồng, trận 04 là 500.000 đồng, trận 05 chưa xác định số tiền đánh bạc. Phạm Đức T7 tham gia cá cược 05 trận, trận 01 là 40.000 đồng, trận 02 là 300.000 đồng, trận 03 là 300.000 đồng, trận 04 là 300.000 đồng. Phạm Tuấn T5 tham gia cá cược 02 trận, trận 01 là 100.000 đồng, trận 02 chưa xác định số tiền đánh bạc. Nguyễn Thanh T6 tham gia cá cược 04 trận, trận 01 là 100.000 đồng, trận 02 là 300.000 đồng, trận 03 là 300.000 đồng, trận 04 là 900.000 đồng. Nguyễn Thành N4 tham gia cá cược 01 trận với số tiền 300.000 đồng.
Về xử lý vật chứng:
- - Số tiền 1.700.000 đồng, là công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm, hiện đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú.
Cáo trạng số 33/CT-VKSTP-ĐN ngày 09 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Văn N, Phạm Văn H, Cao Bảo Q về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã phân tích dấu hiệu phạm tội; đánh giá các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đặc điểm nhân thân của các bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Q đề nghị áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt:
- - Bị cáo Nguyễn Văn N từ 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) tháng tù.
- - Bị cáo Phạm Văn H từ 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) tháng tù.
- - Bị cáo Cao Bảo Q từ 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) tháng tù.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng và quyết định về án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa: Bị cáo N, bị cáo H, bị cáo Q thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung cáo trạng mô tả và không tranh luận, bào chữa cho hành vi của mình. Các bị cáo ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh: Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng mô tả. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận hành vi phạm tội của các bị cáo như sau:
Vào hồi 11 giờ ngày 14/11/2023 tại khu F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Văn N, Phạm Văn H là người đã bị kết án về tội Đánh bạc, Cao Bảo Q đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc, chưa được xóa án tích. Nguyễn Văn N, Phạm Văn H, Cao Bảo Q thực hiện hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh bida với số tiền dưới 5.000.000 đồng. Cụ thể, N đánh bạc 1.100.000 đồng, H đánh bạc 400.000 đồng, Q đánh bạc 600.000 đồng
Như vậy, hành vi của bị cáo N, bị cáo H, bị cáo Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Hành vi của các bị cáo thực hiện không chỉ trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, mà còn gây bất bình trong cộng đồng dân cư, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Vì vậy, để giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội cần có mức hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
[4.1]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[4.2]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo N hiện nay đang bị bệnh, các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Vì vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Quốc cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, bị cáo Q được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự
[5]. Về áp dụng hình phạt: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo tham gia với vai trò là người thực hành, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án không xác định được người khởi xướng việc đánh bạc. Các bị cáo tự nguyện đánh bạc và không có sự bàn bạc, không quy định về thời gian và số tiền dùng để đánh bạc. Hội đồng xét xử đánh giá các bị cáo đều giữ vai trò như nhau trong vụ án nên mức hình phạt của các bị cáo phải ngang nhau.
Bị cáo Q có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 và nhiều tình tiết giảm tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên có căn cứ áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của bộ luật khi lượng hình, nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
[6]. Về các biện pháp tư pháp: Đối với số tiền 1.700.000 đồng là công cụ, phương tiện dùng vào mục đích phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
[7]. Những vẫn đề khác: Những tài sản, đồ vật khác là tài sản hợp pháp và không sử dụng vào mục đích đánh bạc nên cơ quan điều tra đã trao trả cho chủ sở hữu (Bút lục 188).
Đối với Trần Quốc T1, Phạm Xuân A, Trần Thanh T3, Phạm Chí T4, Trần Bình Q1, Nguyễn Nhật T2, Phạm Đức T8, Nguyễn An L1, Phạm Đức T7, Phạm Tuấn T5, Nguyễn Thanh T6, Nguyễn Thành N4 có hành vi đánh bạc trái phép nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan điều tra đã chuyển Công an huyện T xử phạt hành chính.
[8]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[9]. Xét quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo N, bị cáo H, bị cáo Q; Bị cáo Q được áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự
- - Điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N, Phạm Văn H, Cao Bảo Q phạm tội “Đánh bạc”.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Xử phạt: Bị cáo Cao Bảo Q 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.700.000 đồng.
- (Số tiền theo biên lai thu tiền số 0005583 ngày 03/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai).
- Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Bá Đại |
Bản án số 40/2025/HS-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự về tội đánh bạc
- Số bản án: 40/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn N và đồng phạm bị xét xử về tội "Đánh bạc"
