Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc


Bản án số: 40/2025/DS-PT

Ngày: 27 tháng 02 năm 2025

V/v Tranh chấp về thừa kế tài

sản và quyền sử dụng đất

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lại Hiệp Phong.

Các Thẩm phán: bà Đinh Thị Thu Hằng và bà Đào Nữ Ngọc Lan.

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Dương Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang: ông Phạm Trường San - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 203/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản và quyền sử dụng đất".

Do bản án dân sự sơ thẩm số 69/2024/DS-ST ngày 05 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 25/2025/QĐ-PT ngày 05 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  • + Chị Nguyễn Kim L, sinh năm 1981 (có mặt);
  • + Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1983 (vắng mặt);
  • + Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1984 (vắng mặt);
  • + Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1987 (có mặt).

Cùng nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh N, chị H, chị T: chị Nguyễn Kim L, sinh năm 1981; nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim H1, sinh năm 1957; nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

2

Người đại diện theo ủy quyền của bà H1: Bà Ngô Thị Anh N1, sinh năm 1997; nơi cư trú: ấp P, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn (vắng mặt).

Địa chỉ: khóm Đ, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang.

  • + Bà Hồ Thị Ú, sinh năm 1960 (có mặt);
  • + Ông Khưu Văn H2, sinh năm 1959 (vắng mặt).

Cùng nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Khưu Văn H2 là bà Hồ Thị Út .

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn, bà Nguyễn Kim L trình bày:

Cha bà là ông Nguyễn Văn P (chết năm 2017), mẹ là Nguyễn Thị Kim H1. Cha mẹ có 04 người con là Nguyễn Kim L, Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị H và Nguyễn Thị T.

Sau khi cha chết có để lại diện tích đất trồng lúa 6961m² tọa lạc tại ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01328 QSDĐ/cH do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 07/7/1992 cho Nguyễn Văn P. Tài sản nảy là tài sản riêng của ông P. Sau khi cha chết toàn bộ diện tích đất này do mẹ là Nguyễn Thị Kim H1 đang quản lý, sử dụng. Cha chết không để lại di chúc nên tôi là nguyên đơn và là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị H và Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

Yêu cầu được chia thừa kế theo pháp luật đối với diện tích 6961m² thành 05 kỷ phần bằng nhau như sau:

  • Nguyễn Thị Kim H1 1.392m².
  • Nguyễn Kim L 1.392m².
  • Nguyễn Văn N 1.392m².
  • Nguyễn Thị H 1.392m².
  • Nguyễn Thị T 1.392m².

Về chi phí tố tụng: các đồng nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ.

Không đồng ý theo yêu cầu độc lập của ông Khưu Văn H2, bà Hồ Thị Ú: yêu cầu ông Nguyễn Văn N phải trả diện tích đất theo đo đạc thực tế là 3.802,6m² thuộc thửa đất số 672, tờ bản đồ số 4 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02043 cấp ngày 07/11/2013 cho ông Khưu Văn H2, bà Hồ Thị Út.

3

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện: yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của ông Nguyễn Văn P chết để lại diện tích đất 7225,6m² (theo đo đạc thực tế) thuộc thửa số 672 tờ bản đồ số 4 và thửa số 620 tờ bản đồ số 5 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01328 QSDĐ/cH do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 07/7/1992 cho Nguyễn Văn P bằng 05 kỷ phần bằng nhau gồm L, N, H, T, H1 mỗi người được hưởng 1445,12m².

Thống nhất Nguyễn Văn N sẽ là người trực tiếp nhận diện tích đất 7225,6m², tự nguyện trả giá trị bằng tiền cho các đồng thừa kế còn lại gồm L, H, T, H1.

* Bà Ngô Thị Anh N1 là đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Kim H1 trình bày:

Diện tích đất 7225,6m² (theo đo đạc thực tế) thuộc thửa số 672 tờ bản đồ số 4 và thửa số 620 tờ bản đồ số 5 mà phía nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật có nguồn gốc là của chồng bà Nguyễn Thị Kim H1 là ông Nguyễn Văn P (chết năm 2017) để lại. Đây là tài sản riêng của ông P. Diện tích đất này ông P đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01328 QSDĐ/cH ngày 07/7/1992.

Sau khi ông P chết toàn bộ diện tích đất này thời gian đầu là do bà H1 quản lý cho con là Nguyễn Văn N canh tác trồng lúa. Sau này bà giao luôn cho anh N quản lý và canh tác.

Nay ý kiến của bị đơn như sau: Đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, đồng ý chia thừa kế theo pháp luật đối với 7225,6m² (theo đo đạc thực tế) thuộc thửa số 672 tờ bản đồ số 4 và thửa số 620 tờ bản đồ số 5. Đồng ý nhận kỷ phần giá trị bằng tiền tương đương với diện tích đất được chia.

Về chi phí tố tụng: đề nghị các nguyên đơn phải chịu.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Hồ Thị Ú trình bày:

Vào năm 2011, vợ chồng bà có mua trúng đấu giá phần diện tích đất 3740m² của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn và vợ chồng bà cũng đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH02043 thuộc thửa đất số 672 tờ bản đồ số 4. Sau khi mua đất, đến vụ Hè Thu, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn cùng các cơ quan ban ngành xã, và huyện đến tiến hành giao đất cho vợ chồng bà thì bà Nguyễn Thị Kim H1 tiếp tục xuống giống. Bà có gửi đơn đến UBND xã Đ nhưng không được giải quyết.

Tại đơn khởi kiện độc lập ngày 27/5/2021 vợ chồng bà Ú, ông H2 có yêu cầu như sau: Yêu cầu bà Nguyễn Thị Kim H1 phải giao trả diện tích đất 3740m² tọa lạc tại ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang theo thửa đất số 672 tờ bản đồ số 4 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH02043 cấp cho Khưu Văn H2, Hồ Thị Út .

4

Trong quá trình giải quyết bà Ú, ông H2 có đơn thay đổi yêu cầu độc lập như sau:

Yêu cầu ông Nguyễn Văn N phải trả diện tích đất theo đo đạc thực tế là 3.802,6m² thuộc thửa đất số 672, tờ bản đồ số 4 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02043 cấp ngày 07/11/2013 cho ông Khưu Văn H2, bà Hồ Thị Út.

Tại phiên tòa vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập theo đơn ngày 13/5/2024.

Về chi phí tố tụng: yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Chi cục Thi thành án dân sự huyện T có ý kiến:

Thực hiện Quyết định thi hành án số: 23/QĐ.TYC-THA ngày 06/10/2008 của Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn về việc thi hành Bản án số: 43/2008/DSST ngày 14/4/2008 của TAND huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang buộc bà Nguyễn Thị P1, địa chỉ: ấp H, Đ, T, An Giang trả cho bà Nguyễn Thị T1 16,88 chỉ vàng 24K và 2.000.000 đồng cùng lãi suất chậm thi hành án.

Qua quá trình thi hành án, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn đã cho thời gian tự nguyện thi hành án nhưng bà Nguyễn Thị P1 (Nguyễn Thị Kim H1) và gia đình vẫn không thực hiện việc thi hành án.

Ngày 08/3/2010, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn tiến hành kê biên tài sản của bà Nguyễn Thị P1, tài sản gồm:

Đất nông nghiệp diện tích: ngang (54,3m - 53,1m), dài (72,9m - 69,1m) và Giấy chứng nhận số vào sổ cấp GCN: 01328/cH, tờ bản đồ số: 04, thửa số: 672, diện tích: 3.844m² do UBND huyện T cấp ngày 07/7/1992 tọa lạc xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang do ông Nguyễn Văn P (chồng bà Nguyễn Thị P1) đứng tên.

Ngày 14/4/2010, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn hợp đồng với Công ty Cổ phần T2. Kết quả thẩm định giá đối với tài sản nêu trên là: 119.164.000 đồng (Một trăm mười chín triệu một trăm sáu mươi bốn ngàn đồng).

Sau 02 lần bán đấu giá không thành, ngày 27/9/2010 Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn ra Quyết định giảm giá tài sản lần 02 và hợp đồng với Công ty TNHH Một thành viên T2 đưa tài sản của vợ chồng Nguyễn Thị P1, Nguyễn Văn P ra bán lần 03 với giá khởi điểm: 107.545.510 đồng. Ngày 20/01/2011, Công ty TNHH Một thành viên T2 bán đấu giá thành với giá: 109.545.510đ (Một trăm lẽ chín triệu năm trăm bốn mươi lăm ngàn năm trăm mười đồng), do bà Hồ Thị Ú, địa chỉ: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang là người mua tài sản trúng đấu giá.

Ngày 11/02/2011, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn Thông báo V/v giao tài sản Thi hành án số 99/TB-THA cho vợ chồng Nguyễn Thị P1,

5

Nguyễn Văn P tự nguyện giao tài sản nhưng vẫn cố tình không giao và không hợp tác thi hành án. Ngày 14/4/2011, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn tiến hành cưỡng chế giao tài sản cho bà Hồ Thị Út .

Ngày 25/8/2011, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn có Đề nghị số 331/ĐN-THA V/v Hủy giấy chứng nhận QSDĐ gửi UBND huyện T, Phòng T3 và Văn P2 Đăng ký QSDĐ huyện. Đến ngày 11/01/2012, UBND huyện T ra Quyết định số 69/QĐ-UBND V/v thu hồi và hủy Giấy chứng nhận QSDĐ và đã cấp mới cho bà Hồ Thị Ú theo quy định.

Vụ việc đã bán đấu giá thành và đã giao tài sản cho người mua trúng đấu giá theo quy định pháp luật và đã được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ số: CH02043 ngày 07/11/2013 cho bà Hồ Thị Ú và ông Khưu Văn H2 nên Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thoại Sơn yêu cầu Tòa án Nhân dân huyện Thoại Sơn sớm giải quyết vụ việc nhằm đảm bảo quyền lợi của người mua được tài sản bán đấu giá và các bên có liên quan.

Tại bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn tuyên xử:

1. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Kim L, anh Nguyễn Văn N, chị Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị T về việc yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với diện tích đất 3802,6m² thuộc thửa đất số 672 tờ bản đồ số 4.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Kim L, anh Nguyễn Văn N, chị Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị T. Xác định diện tích đất 3423m² đất trồng lúa tại thửa số 620 tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang là di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn P.

Hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn P gồm bà Nguyễn Thị Kim H1, chị Nguyễn Kim L, anh Nguyễn Văn N, chị Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị T.

Chia di sản thừa kế như sau:

  • Bà Nguyễn Thị Kim H1 được chia 81.467.400 đồng (tám mươi mốt triệu bốn trăm sáu mươi bảy nghìn bốn trăm đồng).
  • Chị Nguyễn Kim L được chia 81.467.400 đồng (tám mươi mốt triệu bốn trăm sáu mươi bảy nghìn bốn trăm đồng).
  • Chị Nguyễn Thị H được chia 81.467.400 đồng (tám mươi mốt triệu bốn trăm sáu mươi bảy nghìn bốn trăm đồng).
  • Chị Nguyễn Thị T được chia 81.467.400 đồng (tám mươi mốt triệu bốn trăm sáu mươi bảy nghìn bốn trăm đồng).
  • Anh Nguyễn Văn N có trách nhiệm trả cho chị Nguyễn Kim L, chị Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị Kim H1 mỗi người 81.467.400 đồng (tám mươi mốt triệu bốn trăm sáu mươi bảy nghìn bốn trăm đồng).

6

Anh Nguyễn Văn N được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 3423m² (tại các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 theo bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 19/10/2023 của Văn phòng Đ – Chi nhánh T4) thuộc thửa số 620 tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang và có quyền đăng ký kê khai để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 3423m² khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật đất đai.

3. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của bà Hồ Thị Ú, ông Khưu Văn H2.

Buộc anh Nguyễn Văn N có trách nhiệm trả lại cho bà Hồ Thị Ú và ông Khưu Văn H2 diện tích đất 3802,6m² (tại các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11 theo bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 19/10/2023 của Văn phòng Đ – Chi nhánh T4) thuộc thửa đất số 672 tờ bản đồ số 4 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH02043 do Ủy ban nhân dân cấp ngày 07/11/2013 cho bà Hồ Thị Ú và ông Khưu Văn H2.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 22/7/2024, chị Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo đối với toàn bộ Bản án sơ thẩm số 69/2024/DS-ST ngày 05/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Hồ Thị Ú, ông Khưu Văn H2.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày trong quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm, yêu cầu Tòa án chấp nhận yêu cầu kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm.

Đại diện theo uỷ quyền của bị đơn trình bày: vẫn giữ nguyên trình bày ở cấp sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị Ú trình bày: bà vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp sơ thẩm, yêu cầu Tòa án không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Nguyễn Thị T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

+ Về nội dung: chị Nguyễn Thị T kháng cáo nhưng không có chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ; Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng

7

cáo của chị Nguyễn Thị T; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 69/2024/DS-ST ngày 05/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Chị Nguyễn Thị T kháng cáo trong hạn luật định và có đóng tạm ứng án phí đầy đủ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa phúc thẩm nhưng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt; Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

[2] Xem xét yêu cầu kháng cáo của chị Nguyễn Thị T, thấy rằng:

Các bên đương sự đều thống nhất nguồn gốc diện tích đất 7225,6m² (theo đo đạc thực tế) thuộc thửa 672 tờ bản đồ số 4 (3802,6m²) và thửa 620 tờ bản đồ số 5 (3423,0m²) mà phía nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế là của ông Nguyễn Văn P (cha ruột của nguyên đơn) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01328QSDĐ/cH cấp ngày 07/7/1992.

Đối với diện tích 3844m² thuộc thửa đất số 672 tờ bản đồ số 4: Vào năm 2008, để thi hành Bản án số 43/2008/DSST ngày 14/4/2008 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn nên cơ quan Thi hành án dân sự huyện T đã quyết định kê biên đối với diện tích đất 3.844m² (thuộc thửa đất số 672) để thi hành bản án nêu trên cho người được thi hành án. Ngày 20/01/2011, bà Hồ Thị Ú và ông Khưu Văn H2 đã đấu giá thành công đối với diện tích đất này với số tiền 109.545.510 đồng. Ngày 07/11/2013, bà Ú và ông H2 đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH02043 với diện tích 3740m².

Tại phiên toà, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đều cho rằng: toàn bộ diện tích đất các nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế là di sản do ông Nguyễn Văn P để lại cho các đồng thừa kế. Việc Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn kê biên đấu giá diện tích đất 3844m² trên để thi hành án đối với người phải thi hành là bà Nguyễn Thị P1 là sai quy định pháp luật.

Quá trình thi hành bản án số 43/2008/DSST ngày 14/4/2008 của Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, Cơ quan Công an đã xác nhận bà Nguyễn Thị P1 có tên trong giấy là Nguyễn Thị Kim H1 là một người. Đồng thời, tại Biên bản ngày 09/4/2011 do Chi cục Thi hành án lập, ông Nguyễn Văn P cũng xác định vợ ông tên Nguyễn Thị P1 có tên trong giấy tờ là Nguyễn Thị Kim H1, sinh năm 1957.

8

Mặt khác, tại Công văn số 63/TN&MT của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T3 xác định: ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị Kim H1 kết hôn năm 1976 có 04 người con (người con lớn sinh năm 1981), ông P xin xác lập quyền sử dụng đất vào tháng 10/1991. Nguồn gốc đất của ông Trần Văn C nhận thành quả lao động nên được Ủy ban nhân dân huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01328/QSDĐ-cH ngày 07/7/1992 mang tên Nguyễn Văn P. Vì vậy, việc xác lập quyền sử dụng đất trên là có công sức đóng góp của vợ là Nguyễn Thị Kim H1 (kết hôn năm 1976 trả thành quả lao động năm 1991 cho ông C) mặc dù trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ mang tên ông P. Ngoài ra, tại Biên bản về việc giải quyết khiếu nại ngày 23/5/2011 (BL 103) có thể hiện lời trình bày của ông Nguyễn Văn P “Thửa đất nông nghiệp số 672 và 620 là do cha mẹ của ông cho hai vợ chồng ông vào khoảng năm 1976, vợ chồng ông canh tác ổn định từ đó đến nay”.

Do đó, toàn bộ diện tích đất nêu trên do ông Nguyễn Văn P đứng tên chủ sử dụng là tài sản chung của vợ chồng. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn kê biên, xử lý diện tích 3.844m² thuộc thửa đất số 672 tờ bản đồ số 4 để thi hành án cho người được thi hành án là có cơ sở.

Ngày 20/01/2011, bà Hồ Thị Ú và ông Khưu Văn H2 đấu giá nhận chuyển nhượng diện tích đất này và được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02043 với diện tích 3.740m² thuộc thửa số 672 tờ bản đồ số 4 đúng quy định của pháp luật nên phần đất này không còn là di sản của ông Nguyễn Văn P. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia thừa kế diện tích đất này là có căn cứ.

[3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy chị T kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết, chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu của mình nên Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận. Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Về án phí: chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận.

[5] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị T.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 69/2024/DS-ST ngày 05/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Căn cứ khoản 5, khoản 9 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Khoản 1 và Khoản 4 Điều 91; Khoản 1 Điều 147; Điều 157; Điều 165; Điều 271; Khoản 1 Điều

9

273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; khoản 1 Điều 166, Điều 612, Điều 613, Điều 623, Điều 649, Điều 650 và Điều 651 của Bộ luật Dân sự 2015; khoản 5 Điều 166; Điều 202 và Điều 203 của Luật đất đai năm 2013; khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Kim L, anh Nguyễn Văn N, chị Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị T về việc yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với diện tích đất 3802,6m² thuộc thửa đất số 672 tờ bản đồ số 4.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Kim L, anh Nguyễn Văn N, chị Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị T. Xác định diện tích đất 3423m² đất trồng lúa tại thửa số 620 tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang là di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn P.

Hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn P gồm bà Nguyễn Thị Kim H1, chị Nguyễn Kim L, anh Nguyễn Văn N, chị Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị T.

Chia di sản thừa kế như sau:

  • Bà Nguyễn Thị Kim H1 được chia 81.467.400 đồng (tám mươi mốt triệu bốn trăm sáu mươi bảy nghìn bốn trăm đồng).
  • Chị Nguyễn Kim L được chia 81.467.400 đồng (tám mươi mốt triệu bốn trăm sáu mươi bảy nghìn bốn trăm đồng).
  • Chị Nguyễn Thị H được chia 81.467.400 đồng (tám mươi mốt triệu bốn trăm sáu mươi bảy nghìn bốn trăm đồng).
  • Chị Nguyễn Thị T được chia 81.467.400 đồng (tám mươi mốt triệu bốn trăm sáu mươi bảy nghìn bốn trăm đồng).
  • Anh Nguyễn Văn N có trách nhiệm trả cho chị Nguyễn Kim L, chị Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị Kim H1 mỗi người 81.467.400 đồng (tám mươi mốt triệu bốn trăm sáu mươi bảy nghìn bốn trăm đồng).

Anh Nguyễn Văn N được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 3423m² (tại các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 theo bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 19/10/2023 của Văn phòng Đ – Chi nhánh T4) thuộc thửa số 620 tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang và có quyền đăng ký kê khai để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 3423m² khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật đất đai.

3. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của bà Hồ Thị Ú, ông Khưu Văn H2.

10

Buộc anh Nguyễn Văn N có trách nhiệm trả lại cho bà Hồ Thị Ú và ông Khưu Văn H2 diện tích đất 3802,6m² (tại các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11 theo bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 19/10/2023 của Văn phòng Đ – Chi nhánh T4) thuộc thửa đất số 672 tờ bản đồ số 4 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH02043 do Ủy ban nhân dân cấp ngày 07/11/2013 cho bà Hồ Thị Ú và ông Khưu Văn H2.

4. Về án phí:

  • - Chị Nguyễn Kim L phải chịu 4.373.370 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 2.088.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 000880 ngày 11/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Chị Nguyễn Kim L phải nộp thêm 2.285.370 đồng (hai triệu hai trăm tám mươi lăm nghìn ba trăm bảy mươi đồng).
  • - Chị Nguyễn Thị T phải chịu 4.373.370 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ 2.088.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 000882 ngày 11/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
  • - Chị Nguyễn Thị H phải chịu 4.373.370 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 2.088.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 000881 ngày 11/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Chị Nguyễn Thị T còn phải nộp thêm 2.285.370 đồng (hai triệu hai trăm tám mươi lăm nghìn ba trăm bảy mươi đồng).
  • - Anh Nguyễn Văn N phải chịu 4.673.370 đồng, được khấu trừ 2.088.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 000883 ngày 11/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Anh Nguyễn Văn N còn phải nộp thêm 2.585.370 đồng (hai triệu năm trăm tám mươi lăm nghìn ba trăm bảy mươi đồng).
  • - Bà Nguyễn Thị Kim H1 phải chịu 4.073.370 đồng (bốn triệu không trăm bảy mươi ba nghìn ba trăm bảy mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  • - Bà Hồ Thị Ú và ông Khưu Văn H2 không phải chịu án phí nên được hoàn lại 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008577 ngày 24/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015

11

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Tp - HCM;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - TAND huyện Thoại Sơn;
  • - VKSND huyện Thoại Sơn;
  • - CCTHADS huyện Thoại Sơn;
  • - Phòng KTNV&THA tỉnh AG;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lại Hiệp Phong

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lại Hiệp Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2025/DS-PT ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp về thừa kế tài sản và quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 40/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản và quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ: Nguyễn Kim L, Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị T BĐ: Nguyễn Thị Kim H1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger