|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 40/2025/HS-ST Ngày 27-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Minh
2. Bà Nguyễn Thị Thủy
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thiêm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Ông Võ Công Văn - Kiểm sát viên.
Vào ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 40/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Trường H (tên gọi khác: Không)
Sinh năm 1984 tại Đồng Nai
Nơi cư trú: Số E N, tổ E, khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai
Dân tộc: Kinh; Quốc tịch Việt Nam; Tôn giáo: Phật giáo
Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Công nhân
Cha: Nguyễn Toàn C (đã chết)
Mẹ: Lê Thị Cẩm H1, sinh năm 1962
Vợ, con:
- + Đỗ Thị Mỹ H2, sinh năm 1991 (đã ly hôn vào năm 2012) và có 01 người con chung sinh năm 2009.
- + Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1987 và có 01 người con chung sinh năm 2013.
Tiền án, tiền sự: Không.
* Nhân thân:
- Ngày 30/9/2011, bị Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 (Sáu) tháng 23 (hai ba) ngày tù, về tội: “Cố ý chiếm chiếm đoạt tài sản”, tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa theo Bản án số 75/2011/HSST.
- Ngày 10/12/2012, bị Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 (tám) tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 113/2012/HSST. Chấp hành án tại Trại giam X, đến ngày 01/02/2014 thì chấp hành xong hình phạt.
- Ngày 14/6/2016, bị Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 (mười) tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 58/2016/HSST. Chấp hành án tại Trại giam X, đến ngày 25/01/2017 thì chấp hành xong hình phạt.
Bị tạm giữ từ ngày 28/11/2024 và giam cho đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên toà).
* Bị hại: Chị Lê Thị Hồng Q, sinh năm: 1992 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp E, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Quốc T1, sinh năm: 1987 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số B, đường N, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Trường H nay sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. Để thực hiện ý định, vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 27/11/2024, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu xám, biển số 60B6-605.21 đi từ nhà của H đến địa bàn xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai nhằm mục đích lợi dụng sơ hở của người dân trong việc quản lý tài sản để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 14 giờ 00 cùng ngày, H điều khiển xe mô tô đi đến khu vực ấp E, xã X thì phát hiện nhà chị Lê Thị Hồng Q có cổng mở, cửa chính mở nên H dừng xe ngoài đường rồi đi bộ vào nhà tìm kiếm tài sản trộm cắp. Khi vào nhà, H thấy chị Q đang ngủ trên võng, phía dưới võng có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Z Flip4 128GB, màu vàng nên H tiến lại gần lấy điện thoại rồi ra đường lên xe mô tô tẩu thoát về thành phố L và đi đến Cửa hàng điện thoại di động “Toàn Phát” bán điện thoại trên cho anh Trần Quốc T1 là chủ cửa hàng được số tiền 2.200.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 28/11/2024, H đến Công an xã X đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
* Tại Kết luận định giá tài sản số 89/KL-HĐĐG ngày 29/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện X, kết luận: Giá trị còn lại của 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Z Flip4 màu vàng, đã qua sử dụng là 7.000.000 (Bảy triệu) đồng.
* Vật chứng vụ án và xử lý vật chứng:
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Z Flip4 màu vàng đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản hợp pháp của bị hại Lê Thị Hồng Q nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện X đã trao trả cho chị Q theo quy định.
- - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA màu bạc đen, biển số 60B6-605.21. Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Thanh T. Việc H sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện phạm tội thì chị T hoàn toàn không biết nên nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện X đã trao trả cho chị T theo quy định.
- - 01 (một) đoạn Video clip trích xuất từ Camera tại nhà chị Lê Thị Hồng Q, ghi lại hình ảnh trộm cắp điện thoại của Nguyễn Trường H đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X sao lưu vào 01 đĩa DVD-R16x.
- - 01 (một) đoạn Video clip trích xuất từ Camera tại Cửa hàng điện thoại di động “Toàn Phát” ghi lại hình ảnh bán điện thoại của Nguyễn Trường H đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X sao lưu vào 01 đĩa DVD-R16x.
* Về trách nhiệm dân sự: Chị Lê Thị Hồng Q là bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu gì thêm về dân sự và anh Trần Quốc T1 là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cũng không có yêu cầu gì về dân sự.
* Tại Cáo trạng số 42/CT-VKSXL ngày 04 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc truy tố bị cáo Nguyễn Trường H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường H phạm tội: “Trộm cắp tài sản".
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ra đầu thú, tài sản đã được thu hồi giao trả cho bị hại, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
- - Về mức hình phạt: bị cáo có nhân thân xấu nên đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Trường H mức án từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.
* Bị hại Lê Thị Hồng Q và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Quốc T1 vắng mặt nên Tòa án tiến hành công bố lời khai.
* Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thống nhất với bản Cáo trạng, bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo về phụ vợ nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trường H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Để có tiền tiêu xài cá nhân nên vào ngày 27/11/2024, tại ấp E, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Nguyễn Trường H đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Z Flip4 màu vàng, đã qua sử dụng của chị Lê Thị Hồng Q. Trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 7.000.000 (Bảy triệu) đồng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Trường H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn ảnh hưởng xấu đến an toàn trật tự tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, đã 03 lần bị Tòa án nhân dân Thị xã (nay là thành phố) Long Khánh xử phạt tù vì có hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Lần phạm tội này thể hiện bị cáo không có hướng hối cải, khắc phục sai phạm của bản thân. Do đó, cần áp dụng loại hình phạt tù, xử phạt một mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cũng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo; ra đầu thú; tài sản đã thu hồi trả cho bị hại. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Chị Lê Thị Hồng Q là bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu gì thêm về dân sự; anh Trần Quốc T1 là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cũng không có yêu cầu gì về dân sự nên không đặt ra xem xét.
[7] Về biện pháp tư pháp: Anh Trần Quốc T1 không yêu cầu bị cáo H phải trả lại 2.200.000 đồng tiền anh mua điện thoại từ Nguyễn Trường H nên đây là thu lợi bất chính của H, cần buộc H nộp lại số tiền này để sung công.
[8] Về vật chứng: 01 (một) đoạn Video clip trích xuất từ Camera tại nhà chị Lê Thị Hồng Q, ghi lại hình ảnh trộm cắp điện thoại của Nguyễn Trường H đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X sao lưu vào 01 đĩa DVD-R16x và 01 (một) đoạn Video clip trích xuất từ Camera tại Cửa hàng điện thoại di động “Toàn Phát” ghi lại hình ảnh bán điện thoại của Nguyễn Trường H đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X sao lưu vào 01 đĩa DVD-R16x. Đây là 02 vật chứng chứng minh hành vi phạm tội của Nguyễn Trường H, không thể tách rời khỏi hồ sơ vụ án nên cần tịch thu, tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án là phù hợp.
[9] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử về tội danh, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, loại hình phạt áp dụng đối với bị cáo nên được chấp nhận.
Riêng mức án đối với bị cáo Nguyễn Trường H thì Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc vào tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để có hướng phán quyết vừa mang tính cải tạo, giáo dục vừa thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước ta.
[10] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trường H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường H 02 (H3) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 28 tháng 11 năm 2024.
- Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự:
- + Buộc bị cáo Nguyễn Trường H nộp 2.200.000 (Hai triệu hai trăm ngàn) đồng thu lợi bất chính để sung công.
- + Tịch thu lưu hồ sơ: 01 (một) đoạn Video clip trích xuất từ Camera tại nhà chị Lê Thị Hồng Q, ghi lại hình ảnh trộm cắp điện thoại của Nguyễn Trường H đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X sao lưu vào 01 đĩa DVD-R16x và 01 (một) đoạn Video clip trích xuất từ Camera tại Cửa hàng điện thoại di động “Toàn Phát” ghi lại hình ảnh bán điện thoại của Nguyễn Trường H đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X sao lưu vào 01 đĩa DVD-R16x.
Hiện 02 đoạn video clip này do Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc đang lưu giữ trong hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2025/TLST-HS ngày 05/02/2025.
- Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Trường H phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo Nguyễn Trường H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Riêng các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Tùng |
Bản án số 40/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 40/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
