Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG ẢNG

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2025/HS-ST

Ngày: 26-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG - TỈNH ĐIỆN BIÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Vương Đình Hoàng

2. Ông: Hảng A Nếnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Hồng Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Tùng Lâm - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2025/TLST-HS, ngày 20 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2025/QĐXXST – HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

Bị cáo thứ nhất: Họ và tên: Lường Văn C; Tên khác: Không; sinh ngày: 10/10/1993, tại huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản CB, xã ẮC, huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Thái; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lường Văn I, sinh năm 1947 và con bà Lù Thị H, sinh năm 1945; Gia đình bị cáo có 08 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ 08 trong gia đình; Bị cáo có vợ chị Cầm Thị T, sinh năm 1993 (đã ly hôn) và có 02 người con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xét xử. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/10/2024 đến ngày xét xử, bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

Bị cáo thứ hai: Họ và tên: Lường Văn B; Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 03/5/1980 tại huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản HNg, xã ẮC, huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ học vấn: 3/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Lường Văn P (đã chết) và bà Quàng Thị P, sinh năm: 1947; Gia đình bị cáo có 04 anh em ruột, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Bị cáo có vợ chị Quàng Thị M, sinh năm 1984; Bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2004; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý hành chính; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/10/2024 cho đến ngày xét xử, bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Lường Văn C: Bà Hà Thị Thuận - Trợ giúp viên pháp lý. Nơi công tác: Chi Nhánh trợ giúp pháp lý số 3 thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên (Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Lường Văn B: Bà Lê Thị Thuý An - Trợ giúp viên pháp lý. Nơi công tác: Chi Nhánh trợ giúp pháp lý số 3 thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì hành vi phạm tội của các bị cáo Lường Văn C, Lường Văn B được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 12/10/2024, Lường Văn B đang ở nhà thì có Lường Văn C, trú tại Bản Cói Bánh, xã Ẳng Cang, huyện Mường Ảng đến hỏi mua 100.000 đồng ma túy, loại Heroine nhưng B nói không có ma túy bán và nói nếu muốn mua ma túy thì đưa tiền cho B đi mua hộ, C đồng ý. C đưa cho B số tiền 100.000 đồng, sau đó B tự bỏ thêm 50.000 đồng, tổng là 150.000 đồng rồi đi bộ lên khu vực bản Mánh Đanh, xã Ăng Cang tìm mua Heroine, còn Lường Văn C thì ở nhà của B đợi. Khi B đi đến đoạn đường thuộc bản Mánh Đanh, xã Ảng Cang, huyện Mường Ảng thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, tuổi, địa chỉ đang đứng ở đường, qua trao đổi, B đã hỏi mua được của người này 01 gói Heroine được gói bằng mảnh túi nilon màu hồng với giá 150.000 đồng. Mua xong, B đi bộ về nhà còn người đàn ông dân tộc Mông đi đâu thì không biết.

Về đến nhà, B dùng tay cấu chia Heroine vừa mua được ra thành 03 gói nhỏ khác nhau rồi dùng các mảnh nilon màu hồng gói lại, B lấy 02 gói Heroine cất giấu vào trong túi áo ngực bên trái, còn 01 gói thì B đưa cho Lường Văn C và nói đây là gói Heroine mà C nhờ B đi mua hộ giá 100.000 đồng. Sau đó B hẹn C chiều đến bắn mái tôn nhà bếp giúp B và hứa hẹn trả công bằng Heroine thì C đồng ý. Sau khi Lường Văn C đi về thì B vào nhà sử dụng hết 01 gói Heroine bằng hình thức đốt, hít. Trên đường về C cũng đi vào bụi cây ven đường sử dụng hết gói ma tuý B vừa đưa băng hình thức đốt, hít. Khoảng 14 giờ ngày 12/10/2024, Lường Văn C đến nhà của B để bắn mái tôn nhà bếp cho B như thỏa thuận. Đến 21 giờ cùng ngày, Lường Văn B lấy 01 gói Heroine còn lại ra cấu lấy một ít cho vào mành giấy bạc rồi đưa cho C và nói đây là gói Heroine mà B trả công bắn mái tôn cho C. C nhận lấy gói Heroine cất giấu vào túi quần bên phải để sử dụng. Số Heroine còn lại B tiếp tục gói lại cất giấu lên của số phòng ngủ để sử dụng và trả công làm thuê. Hồi 21 giờ 15 phút cùng ngày, khi B và C đang ngồi uống nước thì bị tổ công tác Công an huyện Mường Ảng đi vào kiểm tra, phát hiện thu giữ tại góc cửa số phòng ngủ của B 01 gói Heroine được gói bằng mảnh túi nilon màu hồng, có khối lượng 0,18 gam và thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của C 01 gói Heroine được gói bằng mảnh giấy bạc màu trắng, khối lượng 0,11 gam. Tổ công tác Công an huyện Mường Ảng tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.

Ngày 21/10/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Ảng quyết định khởi tố vụ án hình sự và Quyết định khởi tố bị can đối với Lường Văn C về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 249 và Lường Văn B về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại biên bản niêm phong vật chứng hồi 23 giờ 25 phút ngày 12/10/2024 thì vật chứng thu giữ của Lường Văn C là 01 gói Heroine được gói bằng gói bằng mảnh nilon màu hồng nghi là Heroine.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 12/10/2024 thì 01 gói Heroine được gói bằng gói bằng mảnh nilon màu hồng của Lường Văn B nghi là Heroine có khối lượng là: 0,18 gam (ký hiệu VC1) và 01 gói bằng mảnh giấy bạc màu trắng thu giữ của Lường Văn C nghi là Heroine có khối lượng là: 0,11 gam (ký hiệu VC2).

Tại bản kết luận giám định số: 1611/KL-KTHS, ngày 20/10/2024 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Lường Văn C và Lường Văn B gồm: VC1: 0,18 gam và VC2: 0,11 gam chất bột màu trắng là ma túy: Loại Heroine; hoàn lại đối tượng giám định.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Cáo trạng số: 09/CT - VKSMA, ngày 147/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đã truy tố bị cáo Lường Văn C về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; bị cáo Lường Văn B về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự . Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt: Bị cáo Lường Văn C từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt: Bị cáo Lường Văn B từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Căn cứ Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS:

  • - Tịch thu tiêu hủy 0,19 gam là vật chứng hoàn lại của vụ án.
  • - Tịch thu tiêu huỷ 01 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh giấy bạc màu trắng; 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Các bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đề nghị xin miễn án phí đề nghị miễn án phí HSST cho các bị cáo Lường Văn C và Lường Văn B.

* Người bào chữa cho bị cáo Lường Văn C vắng mặt tại phiên toà nhưng gửi bài bào chữa với nội dung nhất trí với nội dung cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội đúng pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Lường Văn C có bố đẻ là Lường Văn I và mẹ đẻ là Lù Thị H được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất, hạng nhì đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được qui định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Đề nghị Hội đồng xét xử khi quyết định hình phạt xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt phù hợp và nhẹ nhất có thể. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đề nghị xin miễn án phí, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí HSST cho bị cáo và không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo Lường Văn C nhất trí với nội dung bản luận cứ của người bào chữa không có ý kiến gì khác.

* Người bào chữa cho bị cáo Lường Văn B vắng mặt tại phiên toà nhưng gửi bài bào chữa với nội dung nhất trí với nội dung cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS là đúng người, đúng tội đúng pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Đề nghị Hội đồng xét xử khi quyết định hình phạt xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt phù hợp nhẹ nhất có thể. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đề nghị xin miễn án phí, đề nghị Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo và không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo Lường Văn B nhất trí với nội dung bản luận cứ của người bào chữa không có ý kiến gì khác.

Lời nói sau cùng bị cáo Lường Văn C nhận phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và bị cáo Lường Văn B nhận phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Qua quá trình xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đúng như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu và phù hợp với vật chứng đã thu được của các bị cáo cụ thể: Hồi 21 giờ 15 phút ngày 12/10/2024, tại nhà ở của Lường Văn B thuộc bản HNg, xã ẮC, huyện MA, Lường Văn B đã trả công bắn mái tôn cho Lường Văn C 01 gói Heroine có khối lượng 0,11 gam để C sử dụng. Ngoài tra B còn cất giấu 0,18 gam Heroine để sử dụng và trả công làm thuê. B và C bị Công an huyện Mường Ảng phát hiện, bắt quả tang thu giữ toàn bộ chất ma túy. Như vậy, tổng khối lượng chất ma tuý Lường Văn B phải chịu trách nhiệm là 0,29 gam Heroine, khối lượng chất ma tuý Lường Văn C phải chịu trách nhiệm là 0,11 gam Heroine..

Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Lường Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và bị cáo Lường Văn B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội. Các Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được và biết rõ tác hại của ma túy, bị cáo Lường Văn B đã trả công bắn mái tôn cho Lường Văn C bằng chất ma túy, cả hai bị cáo đều là người thực hiện tích cực hành vi phạm tội.

[3]. Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo C không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù. Hành vi của bị cáo B bị xét xử ở khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 02 đến 07 năm tù.

[4]. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo: Bị cáo Lường Văn C là người nghiện chất ma túy nên có nhân thân không tốt.

Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Bị cáo Lường Văn C có bố đẻ là Lường Văn I và mẹ đẻ là Lù Thị H được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất, hạng nhì đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nên Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống, xã hội một thời gian để bị cáo sửa chữa tội lỗi của mình, sau này trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 của BLHS.

Theo khoản 5 Điều 249 của BLHS quy định các bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Song xét điều kiện hoàn cảnh của các bị cáo thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp không có khả năng thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5]. Tại phiên tòa, xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho các bị cáo có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6]. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS Hội đồng xét xử thấy rằng: 0,19 gam Heroine là vật chứng còn lại sau khi gửi mẫu giám định; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh giấy bạc màu trắng; 01 phong bì niêm phong ban đầu không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với người đàn ông dân tộc Mông bán ma tuý cho B, do B không biết địa chỉ và họ tên của người này. Quá trình điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ nên HĐXX không xem xét.

[7]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Các bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Lường Văn C, Lường Văn B.

[8]. Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9]. Trong quá trình điều tra, truy tố thấy rằng: Các hành vi, Quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, người bào chữa cho các bị cáo đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

  1. 1.Căn cứ Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự: Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn C phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy";

    1.2 Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Lường Văn B phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy"

    • - Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Lường Văn C 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù, Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12 tháng 10 năm 2024.
    • Áp dụng: khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt: Bị cáo Lường Văn B 03 (ba) năm. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12 tháng 10 năm 2024.
  2. 2. Vật chứng: Căn cứ điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS:

    • - Tịch thu tiêu hủy 0,19 gam Heroine là vật chứng hoàn lại của vụ án.
    • - Tịch thu tiêu huỷ 01 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh giấy bạc màu trắng; 01 phong bì niêm phong ban đầu.
    • (Chi Cục thi hành án dân sự huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/01/2025).
  3. 3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST cho các bị cáo Lường Văn C, Lường Văn B.

  4. 4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 26/02/2025).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND h.Mường Ảng;
  • - Công an h.Mường Ảng; Cơ quan THAHS
  • Công an huyện; Nhà tạm giữ CA huyện Mường Ảng
  • - Chi cục THADS h.Mường Ảng;
  • - Các Bị cáo; người bào chữa cho bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(đã ký)

Nguyễn Thị Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2025/HS-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 40/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lường V C/ Lường Văn B - Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger