TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2025/DS-ST
Ngày: 26-02-2025
“V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Vũ
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Tám
2. Ông Huỳnh Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Trần Khắc Huy là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang không tham gia phiên tòa.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 544/2024/TLST-DS ngày 22 tháng 10 năm 2024 về “tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXX-ST ngày 03 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: ông Lê Văn Đ sinh năm: 1965
Địa chỉ: tổ 06, ấp Mỹ Hưng C, xã Mỹ Đức Đông, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang
2. Bị đơn: bà Lê Thị Kim N1 năm: 1983
Địa chỉ: tổ F, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang
(ông Đ có mặt, bà N1 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 29 tháng 7 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Lê Văn Đ trình bày: Do quen biết nên ông có tham gia góp hụi do bà Lê Thị Kim N1 làm chủ hụi của các dây hụi như sau:
Dây thứ 1: Hụi 2.000.000 đồng, mở ngày 30 tháng 11 năm 2022, mỗi tháng khui một lần, gồm có 12 phần, ông tham gia 01 phần, đóng được 12 kỳ cũng là kỳ cuối ông được lãnh hụi trừ tiền hoa hồng cho bà N1 800.000 đồng và phần hụi chết tôi phải đóng lại 2.000.000 đồng, tổng cộng tôi lãnh được số tiền 21.200.000 đồng nhưng bà N1 không giao tiền hụi cho ông.
Dây thứ 2: Hụi 2.000.000 đồng, mở ngày 10 tháng 3 năm 2023, mỗi tháng khui một lần, gồm có 14 phần, ông tham gia 01 phần, đóng được 07 kỳ số tiền là 10.600.000 đồng sau đó bà N1 ngưng hụi cho đến nay. Dây hụi này bà N1 nợ ông 10.600.000 đồng.
Tổng cộng 02 dây hụi bà N1 nợ ông số tiền 29.800.000 đồng, nay ông yêu cầu bà N1 trả ông số tiền này làm 01 lần.
Đối với bà Lê Thị Kim N1 đã được Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng bà N1 không có văn bản gửi Tòa án thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của ông Đ xem như bà N1 từ bỏ quyền trình bày để bảo vệ quyền lợi cho mình.
Tại phiên tòa ông Đ vẫn giữ nguyên ý kiến yêu cầu như trên, bà N1 đã được Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà N1 là phù hợp Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: ông Lê Văn Đ khởi kiện bà Lê Thị Kim N1 về tranh chấp hợp đồng góp hụi, bà N1 cư trú tại: tổ F, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện, ông Đ yêu cầu bà N1 trả tiền nợ hụi nên xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp “hợp đồng góp hụi” theo quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015.
[3] Về nội dung: giữa ông Lê Văn Đ và bà Lê Thị Kim N1 thực tế có xảy ra quan hệ góp hụi với nhau được thể hiện qua các giấy hụi do ông Đ cung cấp. Xét thấy các giấy hụi mà ông Đ cung cấp có thể hiện thời gian, số tiền mở hụi, các thành viên tham gia góp hụi và nội dung thỏa thuận của các thành viên góp hụi đúng như lời trình bày của ông Đ. Bà N1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý và các văn bản tố tụng khác nhưng bà N1 không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của ông Đ và vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ xem như bà N1 biết mình có tổ chức tham gia góp hụi với ông Đ và còn nợ lại tiền hụi ông Đ tổng cộng 29.800.000 đồng đến nay chưa trả. Xét thấy, bà N1 đã nhận được quyền của mình là nhận tiền hụi góp hụi từ ông Đ nhưng lại không thực hiện việc giao hụi cho ông Đ khi ông Đ được lãnh hụi là vi phạm nghĩa vụ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đ. Do đó, cần buộc bà N1 trả ông Đ số tiền nợ hụi còn thiếu tổng cộng là 29.800.000 đồng là phù hợp Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 29 Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2006 về họ, hụi, biêu, phường.
[3] Về án phí: bà Lê Thị Kim N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn Đ được Hội đồng xét xử chấp nhận. Ông Lê Văn Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện của ông Đ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 29 Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2006 về họ, hụi, biêu, phường; khoản 2 Điều 12, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn Đ.
- Buộc bà Lê Thị Kim N1 phải có nghĩa vụ trả ông Lê Văn Đ số tiền nợ hụi tổng cộng là 29.800.000 đồng (hai mươi chín triệu tám trăm nghìn đồng) làm 01 lần.
- Kể từ ngày ông Lê Văn Đ có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Lê Thị Kim N1 chậm thi hành đối với số tiền trên thì còn phải chịu thêm khoản lãi theo quy định tại Điều 357 và 468 Bộ luật dân sự 2015.
- Về án phí:
- Bà Lê Thị Kim N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.490.000 đồng (một triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng).
- Ông Lê Văn Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại ông Lê Văn Đ 950.000 đồng (chín trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016016 ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
- Về quyền kháng cáo: ông Lê Văn Đ được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm, bà Lê Thị Kim N1 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
- Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Vũ |
Bản án số 40/2025/DS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 40/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Lê Văn Đ yêu cầu bà Lê Thị Kim N trả số tiền nợ hụi tổng công là 29.800.000 đồng.
