TAND HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 40/2025/HS-ST Ngày 25-02-2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Tuyết Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lò Văn Chiên
2. Ông Lý Quang Minh
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyên - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên toà
tại điểm cầu trung tâm: Ông Đồng Xuân Tím - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025 Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến tuyến (điểm cầu trung tâm tại Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ; điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an huyện P và Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXXST-HS ngày 13/02/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vàng Văn T; giới tính: Nam; sinh ngày 26/01/1988; Nơi sinh: huyện P, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản N, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Giáy; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông Vàng Văn L, sinh năm 1967 và con bà Tao Thị T1, đã chết; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Lò Thị N, sinh năm 1993; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/10/2024 đến ngày 16/10/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P tạm giam cho đến nay. Có mặt tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Lai Châu.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Mạnh H - Trợ giúp viên pháp lý- Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt tại điểm cầu thành phần Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Lò Thị N, sinh năm 1993; địa chỉ: bản N, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu. Có mặt tại điểm cầu trung tâm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 09/10/2024, Vàng Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave a, biển kiểm soát 25AP-003.58 đi từ nhà đến nhà Vàng Văn M và Vàng Văn T2 ở cùng bản Nà Cúng để hỏi mua Heroine sử dụng. Khi đến nhà T2 và M, T đi ra phía sau nhà hỏi mua Heroine rồi đưa số tiền 100.000 đồng qua khe cửa sổ, người trong nhà (T không biết là ai) nhận tiền rồi đưa cho T 01 gói Heroine (gói bằng mảnh nilon màu hồng). Tưởng nhận gói Heroine cất giấu trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi về. Hồi 20 giờ 40 phút cùng ngày, Vàng Văn T đang đi trên đường thuộc bản Nà Cúng, xã B, huyện P thì bị Công an xã B dừng xe kiểm tra, phát hiện bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, thu giữ 01 gói Heroine (do T tự giao nộp), 01 xe mô tô biển kiểm soát 25AP-003.58. Ngay sau đó, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Vàng Văn M và Vàng Văn T2, quá trình khám xét không thu giữ gì.
Tại bản Kết luận giám định số 11/KLGĐ ngày 10/10/2024 của người giám định theo vụ việc, kết luận: số chất bột màu trắng trong gói nilon màu hồng có khối lượng là: 0,173 gam. Tại Kết luận giám định số 1144/KLGĐ-KTHS ngày 14/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma tuý; loại Heroine.
Bản cáo trạng số 05/CT-VKSPT ngày 16/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo Vàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về bản kết luận điều tra số 128/KLĐT-CQĐT ngày 31/12/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện P và bản Cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 14 đến 17 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự và xử lý vật chứng theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt và miễn hình phạt bổ sung, miễn án phí cho bị cáo theo điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25AP-00358 là tài sản riêng của chị và chị không biết bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Quá trình tham gia bào chữa người bào chữa đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Hồi 20 giờ 40 phút ngày 07/10/2024, tại bản N, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu, bị cáo Vàng Văn T đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,173 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Công an xã B bắt quả tang. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do bị cáo nghiện ma túy nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần được xử lý nghiêm minh.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Khi bắt quả tang xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu bằng test nhanh kết quả xác định trong nước tiểu của bị cáo phát hiện có ma túy nhóm O (M, Heroine); bị cáo không có công việc ổn định, thường xuyên qua lại với các đối tượng nghiện chất ma túy trên địa bàn xã.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần còn hạn chế. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc trên mức khởi điểm đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có cơ hội cai nghiện ma túy và tiếp tục răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng bị cáo nghề nghiệp làm ruộng, nguồn thu thấp, không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án:
Đối với 0,173 gam Heroine thu giữ của Vàng Văn T, Cơ quan điều tra đã lấy 0,016 gam gửi giám định chất ma túy (không hoàn lại mẫu vật) nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vật chứng còn lại của vụ án gồm: 0,157 gam Heroine; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 phong bì niêm phong đã mở là vật chứng Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha màu xanh đen Biển kiểm soát 25Ap-00358, xe đã qua sử dụng. Xét thấy đầy là tài sản chung của vợ chồng bị cáo, bị cáo T đã dùng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6] Những vấn đề liên quan:
Quá trình điều tra, Vàng Văn T khai nguồn gốc H1 là do đến nhà của Vàng Văn M và Vàng Văn T2 mua được. Cơ quan điều tra đã triệu lấy lời khai, tiến hành đối chất giữa M với T, T2 với T; nhưng M và T2 không thừa nhận việc bán Heroine cho T. Ngoài lời khai của Tưởng, không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh. Cơ quan điều tra cũng đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Vàng Văn M và Vàng Văn T2, quá trình khám xét không thu giữ gì. Do đó, không đủ căn cứ xử lý Vàng Văn M và Vàng Văn T2 trong cùng vụ án.
Đối với Lò Thị N là đồng chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25AP-003.58. Quá trình điều tra xác định, khi sử dụng chiếc xe mô tô đi mua Heroine, T không nói cho N và N không biết. Do đó, N không phạm tội.
[7] Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[8] Đối với đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án về việc trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25AP-003.58. Xét thấy, chiếc xe trên là tài sản chung của chị và bị cáo nhưng bị cáo đã dùng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[9] Xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt là không phù hợp, chưa đủ sức răn đe, giáo dục nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, mức hình phạt và các vấn đề liên quan đối với vụ án là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/10/2024.
3. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
4. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,157 gam Heroine; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 phong bì niêm phong đã mở
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha màu xanh đen Biển kiểm soát 25Ap-00358, xe đã qua sử dụng, số máy JA70E-0053944; số khung RLHJA3935PY40263, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong (kèm theo chìa khóa xe).
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/01/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P và Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ).
5. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện Phong Thổ; - Chi Cục THADS huyện Phong Thổ; - CQCS ĐT Công an huyện Phong Thổ; - CQ THAHS Công an huyện Phong Thổ; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Người có QLNVLQ; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Tuyết Thanh |
Bản án số 40/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 40/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Vàng văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS
