Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN AN DƯƠNG

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 40/2025/HS-ST

Ngày 24-02-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Chung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Dung;

Ông Vũ Văn Thi.

- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Ngọc Khanh - Thư ký Toà án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Mai Ngọc L, sinh ngày 06 tháng 11 năm 1997 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số D C, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn T và bà Quách Thị N (theo Biên bản làm việc ngày 26-12-2024 tại Công an phường H, quận H, thành phố Hải Phòng thể hiện bà Quách Thị N và bà Quách Thị L1 là một người); chưa có vợ con; tiền sự: Không; tiền án: Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 23/2020/HSST ngày 12/5/2020, Toà án nhân dân quận Hồng Bàng xử phạt 18 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/4/2021 (chưa được xoá án tích); bị tạm giữ từ ngày 29/10/2024, đến ngày 01/11/2024 chuyển tạm giam - Có mặt.

- Bị hại: Chị Lê Thị L2, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn K, xã Đ, huyện A (nay là Tổ dân phố K, phường Đ, quận A), thành phố Hải Phòng - Có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Quý T1 - Vắng mặt.
  2. Anh Đỗ Xuân T2 - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 8 năm 2021, Mai Ngọc L quen biết chị Lê Thị L2, sinh năm 1991, trú tại: Thôn K, xã Đ, huyện A (nay là Tổ dân phố K, phường Đ, quận A), thành phố Hải Phòng qua mạng xã hội Facebook. Mai Ngọc L nói dối chị L2 bản thân sinh năm 1993, bố mẹ đã chết, hiện đã ly hôn vợ, đang nuôi con gái ở nhà bà ngoại để tạo lòng tin cho chị L2 làm bạn gái của mình. Ngày 17/11/2021, do hết tiền nên L nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô của chị L2 để bán lấy tiền ăn tiêu. Khoảng 14 giờ ngày 17/11/2021 tại thôn H, xã Đ, huyện A (nay là Tổ dân phố H, phường A, quận A), L nói với chị L2 cho mượn xe Honda SH Mode Biển kiểm soát 15N1-102.08 để đi gặp bạn. Chị L2 đồng ý đưa xe mô tô cho L cùng toàn bộ giấy tờ. Sau khi mượn được xe, L mang cầm cố cho một người tên T3 (hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch) tại khu vực đường H, phường S, quận H với giá 13.000.000 đồng, sau đó L gọi điện thoại cho chị L2 nói dối có việc nên chưa trả được xe. Sáng ngày 18/11/2021, chị L2 gọi điện đòi xe nhưng L liên tục nói dối và kéo dài thời gian để trốn tránh việc đã cầm cố chiếc xe. Chiều ngày 18/11/2021, L nhờ anh Nguyễn Quý T1, trú tại thôn K, xã T, huyện K bán hộ chiếc xe trên và gửi qua Zalo cho anh T1 xem các hình ảnh chụp cùng với chị L2 và các tin nhắn với chị L2 để chứng minh chị L2 là vợ mình. Đến tối cùng ngày, anh T1 cùng anh Đỗ Xuân T2, trú tại số A V, phường A, quận L đến gặp L tại chân cầu K, xã A, huyện A (nay là phường A, quận H) để xem xe. Tại đây, L cho anh T1 và anh T2 xem tin nhắn và hình chụp chung giữa L và chị L2 để tạo lòng tin về việc chủ xe là vợ mình. Khoảng 10 phút sau thì T3 và 02 người nữa không rõ lai lịch mang xe đến. Sau khi xem xe và giấy tờ, anh T2 đồng ý mua với giá 30.000.000 đồng. Anh T2 đưa trước cho L 13.000.000 đồng để chuộc xe, rồi chở L về nhà ở số D C, phường H. Khi xác định được nhà L, anh T2 trả nốt 16.000.000 đồng còn lại (sau khi đã trừ 1.000.000 đồng tiền làm giấy tờ). Ngày 19/11/2021, anh T2 đã bán chiếc xe trên cho một người không quen biết. Sau đó, L về gặp chị L2 nói đã bán xe và hứa sẽ chuộc lại trả nhưng sau đó không trả được và cắt liên lạc với chị L2. Sau nhiều ngày không liên lạc được với L, đến ngày 07/12/2021 chị L2 đã đến cơ quan Công an trình báo.

Tại Kết luận định giá tài sản ngày 29/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A (nay là quận A), kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH MODE, BKS: 15N1-102.08 trị giá 35.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, Mai Ngọc L bỏ trốn. Đến ngày 29/10/2024, L bị Công an phường S, quân H bắt theo Quyết định truy nã, thu giữ của L số tiền 170.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung. Tại Cơ quan điều tra, L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, lời khai của những người làm chứng và kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A (nay là quận A).

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Lê Thị L2 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, đến nay chị L2 không có yêu cầu đề nghị nào khác về dân sự.

Đối với số tiền 170.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, quá trình điều tra xác định L mượn những tài sản này của bạn là chị Nguyễn Thị Thùy L3, sinh năm 1989, trú tại phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, Cơ quan điều tra đã trả lại những tài sản này cho chị L3.

Tại Cáo trạng số 27/CT-VKSHB ngày 13 tháng 01 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân quận An Dương truy tố Mai Ngọc L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận An Dương thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đánh giá các tình tiết của vụ án, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Mai Ngọc L từ 27 tháng tù đến 33 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại là chị Lê Thị L2 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Mai Ngọc L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, phần lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, bị hại không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về tài liệu, chứng cứ Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận A, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận An Dương, Kiểm sát viên thu thập; bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận A, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận An Dương, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Vì vậy, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về sự vắng mặt của người làm chứng tại phiên tòa: Tại phiên tòa, người làm chứng là anh Nguyễn Quý T1 và anh Đỗ Xuân T2 được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát không đề nghị hoãn phiên tòa vì sự vắng mặt của những người này. Xét thấy, những người làm chứng đều đã có lời khai tại các giai đoạn tố tụng và việc vắng mặt của họ tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người làm chứng.

- Về nhận định các tình tiết của vụ án:

[4] Về tội danh:

[4.1] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, lời khai của bị hại, những người làm chứng, phù hợp với Kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận: Ngày 17/11/2021, tại thôn H, xã Đ, huyện A (nay là Tổ dân phố H, phường A, quận A), Mai Ngọc L đã thực hiện thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt 01 xe mô tô Honda SH Mode Biển kiểm soát 15N1-102.08 của chị Lê Thị L2.

[4.2] Tại Kết luận định giá tài sản ngày 29/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A (nay là quận A), kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH MODE, BKS: 15N1-102.08 trị giá 35.000.000 đồng.

[4.3] Hành vi nêu trên của bị cáo Mai Ngọc L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết định khung hình phạt: Tổng trị giá của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH MODE, BKS: 15N1-102.08 bị cáo đã lừa đảo được xác định theo Kết luận định giá tài sản là 35.000.000 (Ba mươi lăm triệu) đồng. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

[6] Tính chất vụ án mặc dù ít nghiêm trọng, tuy nhiên hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ và gây mất trị an, an toàn xã hội. Bởi vậy, cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, để giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo không có tài liệu nào khác chứng minh các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

[8] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 23/2020/HSST ngày 12/5/2020 của Toà án nhân dân quận Hồng Bàng xử phạt 18 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/4/2021 (chưa được xóa án tích) nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "tái phạm" theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[9] Về hình phạt:

[9.1] Về hình phạt chính: Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, mục đích của hình phạt, nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội. Xét thấy, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ cá nhân, muốn chiếm đoạt tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ để sử dụng vào mục đích riêng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân và gây mất trị an, an toàn xã hội. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tù thích hợp mới đảm bảo quy định của pháp luật nhằm trừng trị người phạm tội, giáo dục họ có ý thức tuân theo pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới và đấu tranh phòng ngừa chung. Mặt khác, bị cáo có 01 tiền án về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích. Điều đó thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo không tốt. Do vậy, áp dụng hình phạt như đề nghị của Viện Kiểm sát là có cơ sở.

[9.2] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Xét thấy, bị cáo không có việc làm ổn định, không có căn cứ xác định bị cáo có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị của Viện Kiểm sát là có cơ sở.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[11] Về xử lý tài sản, vật chứng: Không.

[12] Về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố:

Bị cáo Mai Ngọc L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt:

Bị cáo Mai Ngọc L 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 29/10/2024.

- Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về xử lý tài sản, vật chứng: Không.

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Mai Ngọc L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP.Hải Phòng;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - PV 06 Công an TP. Hải Phòng;
  • - CA quận An Dương;
  • - Cơ quan THAHS Công an quận An Dương;
  • - VKSND quận An Dương;
  • - Chi cục THADS quận An Dương;
  • - UBND nơi cư trú của bị cáo;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Chung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2025/HS-ST ngày 24/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 40/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mai Ngọc Linh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger