TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2025/HS-ST Ngày 20-02-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Lệ Chi
2. Ông Nguyễn Văn Nông.
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Duy Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thúy An, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 420/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Q, sinh năm 1997 tại tỉnh Sóc Trăng; thường trú: Ấp Q, xã Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; tạm trú: Nhà trọ Nguyễn Văn T, tổ B, ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1964; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không, tiền sự:
- - Năm 2018, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 15 tháng theo Quyết định số 39/2018/QĐ-TA ngày 28/11/2018, chấp hành xong ngày 10/01/2020.
- - Năm 2021, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 16 tháng theo Quyết định số 04/2021/QĐ-TA ngày 01/4/2021, chấp hành xong ngày 18/5/2022.
- - Năm 2023, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 16 tháng theo Quyết định số 15/2023/QĐ-TA ngày 09/3/2023, chấp hành xong ngày 23/4/2024.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/7/2024 cho đến nay, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Trần Thành H, sinh năm 1988; địa chỉ: Số F, ấp B, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người tham gia tố tụng khác:
- Người chứng kiến: Ông Lâm Gia L, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Q là người nghiện ma túy. Khoảng 12 giờ ngày 01/7/2024, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên Q liên hệ với người đàn ông tên C1 (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) thông qua tài khoản zalo “Văn Chương” để hỏi mua 500.000 đồng ma túy và xin nợ tiền thì C1 đồng ý, đồng thời C1 hẹn Q đến thành phố D để giao ma tuý. Quẹo mượn xe mô tô biển số 93F5-1741 của anh Trần Thành H và điều khiển xe chạy từ huyện P, tỉnh Bình Dương đến khu vực trạm thu phí B thì gặp C1, Q được C1 dẫn đến chờ trước một con hẻm, 30 phút sau C1 quay lại và giao cho Q một gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng, bên ngoài gói nylon quấn băng keo đen. Sau khi nhận được ma túy, Q dán gói ma túy vừa mua vào nách áo sơ mi đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đến trước cửa hàng T2 tại địa chỉ: số C khu phố T, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng Công an phường B phát hiện và bắt giữ.
Tang vật thu giữ trong vụ án: 01 gói nilon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng có dán băng keo đen; 01 xe mô tô biển số 93F5-1741; 01 điện thoại di động OPPO A17 màu xanh kèm sim số 0362707728 và 01 áo sơ mi sọc caro màu xanh đen.
Tại Kết luận giám định số 3159/KL-KTHS(MT) ngày 05/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 1,2692 gam.
Tại Cáo trạng số 06/CT-VKS-DA ngày 09 tháng 12 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 áo sơ mi sọc caro màu xanh đen đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại cho bị cáo.
- - Đối với xe mô tô hai bánh nhãn hiệu KNIGHT, số loại 100DF, biển số 93F5-1741, số khung: LFD100200101801, số máy: 1P50FMG310776583 do bà Hoàng Thị T1 đứng tên chủ sở hữu, hiện không xác định được nơi cư trú của bà T1. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã đăng thông báo truy tìm chủ sở hữu nhưng không có kết quả. Qua điều tra xác định anh Trần Thành H là chủ cơ sở chăn nuôi nơi Q đang làm việc đã mua lại xe mô tô nói trên, chưa làm thủ tục sang tên, anh H cho Q mượn xe để đi mua thức ăn. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả lại xe mô tô cho anh Trần Thành H.
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17 màu xanh, sim số 0362707728 bị cáo Q dùng để liên hệ mua ma túy nên đề nghị tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
- - Đối với 01 bì thư đã niêm phong ký hiệu 3159/PC09, bên trong chứa 1,1881 gam Methamphetamine là mẫu vật còn lại sau giám định, đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Văn Q hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D tiếp tục điều tra, xử lý sau.
Tại phiên toà bị cáo không tranh luận, trong lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Văn Q thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Trần Thành H, tuy nhiên anh H đã có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, có lời khai tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt của anh H không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Tòa án xét xử vắng mặt anh H theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo và người chứng kiến; Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 01/7/2024, Kết luận giám định số 3159 ngày 05/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh B và những chứng cứ, tài liệu được thu thập trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 01/7/2024 tại trước cửa hàng T2, số C khu phố T, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Văn Q có hành vi cất giữ 01 gói nylon miệng hàn kín, bên trong chứa ma túy loại methamphetamine, có tổng khối lượng là 1,2692 gam, mục đích để sử dụng, đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Do đó, Cáo trạng số 06/CT-VKS-DA ngày 09 tháng 12 năm 2024 của Viện Kiểm sát thành phố D, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo cũng như bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
[6] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu thể hiện qua việc nghiện ma tuý, có nhiều tiền sự; Bị cáo có trình độ học vấn thấp.
[7] Về xử lý vật chứng:
[7.1] Xét bì thư được niêm phong bên trong chứa ma tuý loại methamphetamine còn lại sau giám định, có khối lượng 1,1881 gam là vật cấm tàng trữ, lưu hành; sim số 0362707728 không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7.2] Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO A17 màu xanh bị cáo dùng để liên hệ mua ma tuý nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
[7.3] Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu KNIGHT, số loại 100DF, biển số 93F5-1741, số khung: LFD100200101801, số máy: 1P50FMG310776583 do bị cáo mượn của anh Trần Thành H, anh H không biết bị cáo sử dụng xe để mua ma tuý nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả lại anh H là đúng quy định.
[8] Đối với người đàn ông bán ma tuý cho Q chưa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau là phù hợp.
[9] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát thành phố D, tỉnh Bình Dương đưa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, tội danh đối với bị cáo cũng như việc xử lý vật chứng là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy được chấp nhận. Đối với mức hình phạt Viện Kiểm sát đề nghị là chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng mức hình phạt cao hơn đề nghị của Viện Kiểm sát.
[10] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 01/7/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 89, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư được niêm phong ký hiệu 3159/PC09, là mẫu vật còn lại sau giám định 1,1881 gam methamphetamine; sim số 0362707728.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO (số IMEI 1:865947064150630) A17 màu xanh.
(Theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 10/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngân |
Bản án số 40/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 40/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Q phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
