|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 19 - 02 - 2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Sang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đào Thị Thu Vân
- Ông Trần Thanh Sang
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Nhựt Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Tiên - Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 682/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Tuyết N, sinh năm 1997
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1992
Nơi cư trú: Số B, tổ H, ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
Nơi cư trú: Ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Tuyết N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Do tự tìm hiểu nên chị Phạm Tuyết N và anh Nguyễn Văn D tự nguyện tiến đến hôn nhân vào tháng 02/2016 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 09/8/2018. Sau khi kết hôn, chị Phạm Tuyết N và anh Nguyễn Văn D chung sống tại số B, tổ H, ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (nhà cha mẹ của chị Phạm Tuyết N). Vợ chồng chung sống đến tháng 02/2021 thì phát sinh mâu thuẫn do anh Nguyễn Văn D không quan tâm đến gia đình, không phụ giúp kinh tế với chị Phạm Tuyết N để chăm lo gia đình, không tôn trọng ý kiến của vợ mà chỉ làm theo ý kiến cá nhân của anh Nguyễn Văn D; thường xuyên bất đồng quan điểm về cuộc sống với gia đình vợ dẫn đến cãi vã với cha mẹ vợ, thường xuyên uống rượu, sau khi uống rượu thì mắn chửi, xúc phạm gia đình bên vợ và có hành vi tham gia đánh bạc. Ngoài ra không còn nguyên nhân nào khác. Đến tháng 01/2024, mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trong nên vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, gia đình hai bên có động viên hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị Phạm Tuyết N và anh Nguyễn Văn D; bản thân chị Phạm Tuyết N có cho anh Nguyễn Văn D cơ hội để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh Nguyễn Văn D không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng nên không hàn gắn được. Do tình cảm vợ chồng không còn nên chị Phạm Tuyết N yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.
Về con chung: Chị Phạm Tuyết N và anh Nguyễn Văn D có 01 (một) con chung tên Nguyễn Thị Tuyết N1, sinh ngày 19/9/2018. Hiện nay, con chung đang sống với chị Phạm Tuyết N. Khi ly hôn, chị Phạm Tuyết N yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; không yêu cầu anh Nguyễn Văn D cấp dưỡng nuôi con chung. Nghề nghiệp hiện tại của chị Phạm Tuyết N là buôn bán với mức thu nhập 4.000.000 đồng/tháng nên đủ để nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện gồm: Giấy chứng nhận kết hôn, Giấy khai sinh của con chung, T bảo hiểm y tế của con chung.
Anh Nguyễn Văn D vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa,
Chị Phạm Tuyết N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
Anh Nguyễn Văn D vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã làm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Tuyết N. Về quan hệ hôn nhân, chị Phạm Tuyết N được ly hôn với anh Nguyễn Văn D. Về con chung, chị Phạm Tuyết N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Tuyết N1, sinh ngày 19/9/2018; anh Nguyễn Văn D không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn, Giấy khai sinh của con chung, anh Nguyễn Văn D có nơi cư trú tại ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang. Đồng thời, tại Biên bản xác minh ngày 24/02/2025 xác định, anh Nguyễn Văn D có đăng ký thường trú và cư trú tại ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang nhưng hiện nay thường vắng mặt tại địa phương do đi làm ăn xa; đồng thời, địa phương không xác định được thời gian trở về và nơi làm việc của anh Nguyễn Văn D do anh Nguyễn Văn D không có trình báo chính quyền địa phương. Căn cứ Điều 11 Luật Cư trú, Điều 5 và khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xác định nơi cư trú của anh Nguyễn Văn D tại ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
[1.2] Chị Phạm Tuyết N khởi kiện yêu cầu được ly hôn đối với anh Nguyễn Văn D, yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi ly hôn với anh Nguyễn Văn D là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Đồng thời, anh Nguyễn Văn D (bị đơn) có nơi cư trú tại ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Đối với anh Nguyễn Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng trong vụ án nhưng vắng mặt không có lý do trong quá trình tố tụng tại Tòa án. Tại phiên tòa, anh Nguyễn Văn D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 02 để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn D.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn D của chị Phạm Tuyết N, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Chị Phạm Tuyết N cho rằng, chị Phạm Tuyết N và anh Nguyễn Văn D tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang. Vợ chồng chung sống đến tháng 02/2021 thì phát sinh mâu thuẫn do anh Nguyễn Văn D không quan tâm đến gia đình, không phụ giúp kinh tế với vợ để chăm lo gia đình, không tôn trọng ý kiến của vợ mà chỉ làm theo ý kiến cá nhân của anh Nguyễn Văn D; anh Nguyễn Văn D thường xuyên bất đồng quan điểm về cuộc sống với gia đình vợ dẫn đến cãi vã với cha mẹ vợ, thường xuyên uống rượu, sau khi uống rượu thì mắn chửi, xúc phạm gia đình bên vợ và có hành vi tham gia đánh bạc. Mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng từ tháng 01/2024 nên vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, gia đình hai bên có động viên, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị Phạm Tuyết N và anh Nguyễn Văn D; chị Phạm Tuyết N cũng tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn tình cảm nhưng do anh Nguyễn Văn D không thay đổi tính tình nên không hàn gắn được. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Phạm Tuyết N yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn D.
Anh Nguyễn Văn D đã được tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Tuyết N.
Xét thấy, chị Phạm Tuyết N và anh Nguyễn Văn D kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Anh Nguyễn Văn D đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Tuyết N theo quy định tại Điều 91 và Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị Phạm Tuyết N và anh Nguyễn Văn D theo quy định của pháp luật nhưng anh Nguyễn Văn D vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án nên không hòa giải được, thể hiện anh Nguyễn Văn D không còn thiện chí níu kéo quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Tuyết N và anh Nguyễn Văn D nên lời trình bày của chị Phạm Tuyết N về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và tình trạng hôn nhân giữa chị Phạm Tuyết N và anh Nguyễn Văn D đã lâm vào tình trạng trầm trọng là có cơ sở chấp nhận. Do đó, có căn cứ để xác định hôn nhân giữa chị Phạm Tuyết N và anh Nguyễn Văn D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, việc chị Phạm Tuyết N yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Văn D phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
[2.2] Xét yêu cầu được được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của chị Phạm Tuyết N, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Chị Phạm Tuyết N xác định chị Phạm Tuyết N và anh Nguyễn Văn D có 01 (một) con chung tên Nguyễn Thị Tuyết N1, sinh ngày 19/9/2018, hiện nay đang sống với chị Phạm Tuyết N. Khi ly hôn, chị Phạm Tuyết N yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; không yêu cầu anh Nguyễn Văn D cấp dưỡng nuôi con.
Anh Nguyễn Văn D vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Xét thấy, việc giao con chung là người chưa thành niên cho người chăm sóc, nuôi dưỡng khi chị Phạm Tuyết N và anh Nguyễn Văn D ly hôn phải đảm bảo điều kiện phát triển tốt nhất cho con cả về vật chất lẫn tinh thần. Căn cứ lời trình bày của chị Phạm Tuyết N, con chung hiện nay đang sống với chị Phạm Tuyết N, quá trình sinh sống với chị Phạm Tuyết N, con chung vẫn phát triển tốt. Để giúp cháu Nguyễn Thị Tuyết N1 phát triển tốt nhất về thể chất và tinh thần, Hội đồng xét xử xét thấy việc chị Phạm Tuyết N yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi chị Phạm Tuyết N và anh Nguyễn Văn D ly hôn phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Phạm Tuyết N là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi chị Phạm Tuyết N và anh Nguyễn Văn D ly hôn nên anh Nguyễn Văn D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình nhưng chị Phạm Tuyết N không yêu cầu anh Nguyễn Văn D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
[2.4] Đối với tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
[3] Về án phí và quyền kháng cáo:
Chị Phạm Tuyết N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điều 28, 35, 39, 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Tuyết N.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Tuyết N được ly hôn anh Nguyễn Văn D.
[2] Về con chung:
Chị Phạm Tuyết N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Tuyết N1, sinh ngày 19/9/2018. Hiện nay đang sống với chị Phạm Tuyết N.
Anh Nguyễn Văn D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị Phạm Tuyết N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Nguyễn Văn D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Trên cơ sở lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[3] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Tuyết N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0023500 ngày 22/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
[7] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Phước Sang |
Bản án số 40/2025/HNGĐ-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 40/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do tự tìm hiểu nên chị Phạm Tuyết N và anh Nguyễn Văn D tự nguyện tiến đến hôn nhân vào tháng 02/2016 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 09/8/2018. Sau khi kết hôn, chị Phạm Tuyết N và anh Nguyễn Văn D chung sống tại số B, tổ H, ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (nhà cha mẹ của chị Phạm Tuyết N). Vợ chồng chung sống đến tháng 02/2021 thì phát sinh mâu thuẫn do anh Nguyễn Văn D không quan tâm đến gia đình, không phụ giúp kinh tế với chị Phạm Tuyết N để chăm lo gia đình, không tôn trọng ý kiến của vợ mà chỉ làm theo ý kiến cá nhân của anh Nguyễn Văn D; thường xuyên bất đồng quan điểm về cuộc sống với gia đình vợ dẫn đến cãi vã với cha mẹ vợ, thường xuyên uống rượu, sau khi uống rượu thì mắn chửi, xúc phạm gia đình bên vợ và có hành vi tham gia đánh bạc. Ngoài ra không còn nguyên nhân nào khác. Đến tháng 01/2024, mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trong nên vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, gia đình hai bên có động viên hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị Phạm Tuyết N và anh Nguyễn Văn D; bản thân chị Phạm Tuyết N có cho anh Nguyễn Văn D cơ hội để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh Nguyễn Văn D không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng nên không hàn gắn được. Do tình cảm vợ chồng không còn nên chị Phạm Tuyết N yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn D
