Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2025/HS-ST

Ngày: 18-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Văn Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Tuyết

Ông Nguyễn Xuân Lập

Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Đức Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà:

Ông Trần Mạnh Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2025/TLST-HS ngày 20/01/2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HS ngày 03/02/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Cao S; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 10/5/1989, tại Đ, Quảng Ninh; Nơi thường trú: Tổ A, khu A, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Bùi Văn T, sinh năm 1958; Con bà: Hoàng Thị X, sinh năm 1964; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Ngày 27/12/2023 bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, TP . xử phạt 01 (một) năm tù về tội "Trộm cắp tài sản"; Nhân thân: Ngày 17/8/2020 bị Công an phường T, quận C, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo đầu thú ngày 06/11/2024, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt.

- Bị hại: chị Nguyễn Thị Thanh H (Sinh năm 2005; địa chỉ: Tổ B, khu Q, phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh); Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: ông Bùi Văn T (Sinh năm 1958; Địa chỉ: tổ A, khu A, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh), vắng mặt; Anh Nguyễn Văn L (sinh năm 1990; Địa chỉ: khu B, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh), vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 05/11/2024, Bùi Cao S mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, biển kiểm soát (BKS) 34B4-589.60, của bố đẻ là ông Bùi Văn T (sinh năm 1958, trú tại: tổ A, khu A, phường G, thành phố H) đi từ nhà thuộc tổ A, khu A, phường G, thành phố H đi thành phố U để giải quyết việc cá nhân. Khoảng 11 giờ cùng ngày, S dừng lại tại quán cơm ở mặt đường Q của chị Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 2005, trú tại: tổ B, khu Q, phường Đ, thành phố H, để ăn cơm. Khi vào trong quán, S không thấy chủ quán, nhìn xung quanh cũng không thấy có ai. S thấy cửa phòng ngủ của quán đang mở, S quan sát thấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng (điện thoại của chị H) để trên mặt bàn trong phòng ngủ. Lúc này, S nảy sinh ý định lấy trộm chiếc điện thoại trên để bán lấy tiền chi tiêu. S đi thẳng vào phòng ngủ, dùng tay phải cầm chiếc điện thoại cho vào túi quần bên phải. Sau khi lấy được điện thoại, S đi ra ngoài thì vẫn không thấy ai nên đi ra xe mô tô đề ngoài cửa quán rồi điều khiển xe đi về thành phố Đ. Khi đi đến khu vực chợ B thuộc phường B, thành phố Đ thì S điều khiển xe đến cửa hàng điện thoại Viết L1 và bán cho anh Nguyễn Văn L - chủ cửa hàng chiếc điện thoại trên với giá 3.500.000 đồng. Sau đó, anh L đã sử dụng tài khoản ngân hàng số 1898688688888, mở tại ngân hàng M chuyển tiền đến số tài khoản 0385836021, mở tại ngân hàng T1 của S. Sau khi được nhận đủ số tiền trên trong tài khoản thì S điều khiển xe mô tô bỏ đi và chỉ tiêu hết số tiền này.

Ngày 05/11/2024, chị H phát hiện bị mất trộm điện thoại đã đến Công an thành phố H trình báo. Cùng ngày, S đến cơ quan Công an đầu thú.

Ngày 06/11/2024, anh L tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại Iphone 12 nêu trên. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 220/KLĐGTS ngày 06/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố H, kết luận: Giá trị của chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng, dung lượng 128GB tại thời điểm bị chiếm đoạt là 14.133.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như lời khai tại cơ quan điều tra cũng như lời khai tại phiên tòa hôm nay, về thời gian, địa điểm, vật chứng bị thu giữ.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã lại cho chị Nguyễn Thị Thanh H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 Promax, màu vàng. Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, BKS 34B4-589.60 và 01 giấy đăng ký xe mô tô số 366343 cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Bùi Văn T.

Về bồi thường dân sự: chị H không yêu cầu S bồi thường gì. Anh Nguyễn Văn L đề nghị Bùi Cao S trả lại cho anh L số tiền 3.500.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 1135/CT - VKSHL ngày 17/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo Bùi Cao S về tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử :

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Xử phạt Bùi Cao S từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/11/2024.

Về xử lý vật chứng: Các vật chứng đã trả lại chủ sở hữu nên không xem xét giải quyết.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;

Về phần dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo phải trả cho anh Nguyễn Văn L 3.500.000 đồng.

Bị cáo thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận với bản luận tội.

Trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện: Lời khai của bị cáo tại phiên Tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án; phù hợp với vật chứng thu giữ, bản ảnh hiện trường, sơ đồ hiện trường cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 05/11/2024, tại tổ B, khu Q, phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Bùi Cao S đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng, dung lượng 128GB, trị giá 14.133.000 đồng (mười bốn triệu một trăm ba mươi ba nghìn đồng).

Hành vi của bị cáo đã đáp ứng các yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.00 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”.

[3] Bị cáo nhận thức rõ quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của mọi người phải được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đến tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Nhưng do lối sống buông thả, coi thường pháp luật, lười lao động, thích hưởng thụ nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội bất chấp hậu quả xảy ra, hành vi của bị cáo còn gây nên tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự trị an. Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, mới có tác dụng giáo dục và phục vụ công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người đang có tiền án, chưa được xóa án tích mà lại cố ý thực hiện hành vi phạm tội, nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại Điểm h, khoản 1 Điều 52 bộ luật hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo ăn năn hối cải và ra đầu thú nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền. Tuy nhiên, xét bị cáo không có việc làm, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã lại cho chị Nguyễn Thị Thanh H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 Promax, màu vàng. Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, BKS 34B4-589.60 và 01 giấy đăng ký xe mô tô số 366343 cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Bùi Văn T. Không ai có yêu cầu gì khác về vật chứng, nên không xem xét giải quyết.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Chị H và ông T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét giải quyết. Anh L yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 3.500.000 đồng, xét thấy anh L mua chiếc điện thoại do bị cáo bán nhưng không biết là tài sản do phạm tội mà có, trong việc mua bán này anh L là người ngay tình nên cần buộc bị cáo phải trả lại cho anh L số tiền 3.500.000 đồng

[9] Xét những chứng cứ mà Kiểm sát viên dùng để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, đã được cơ quan Điều tra thu thập theo đúng thủ tục, trình tự mà Bộ luật tố tụng Hình sự quy định. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận có thực hiện hành vi như bản cáo trạng của Viện kiểm sát, nên các đề nghị của Kiểm sát viên về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung và xử lý vật chứng đối với bị cáo là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Đối với hành vi thu mua chiếc điện thoại của anh L, do bị cáo không nói rõ nguồn gốc chiếc điện thoại cho anh L nên không có căn cứ xử lý về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

[11] Án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

[I]. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bùi Cao S 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/11/2024, về tội “Trộm cắp tài sản”.

[II]. Về trách nhiệm dân sự trong vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 468, Điều 357 Bộ luật dân sự

Buộc bị cáo Bùi Cao S phải trả cho anh Nguyễn Văn L số tiền là 3.500.000 (ba triệu năm trăm nghìn) đồng.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đến khi thi hành án xong, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

[III]. Về án phí và quyền kháng cáo

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Bùi Cao S phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm; 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1, 4 Điều 331; Khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND, Chi cục THADS TP. Hạ Long;
  • - CQCSĐT, CQTHAHS Công an TP. Hạ Long;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Người tham gia tố tụng (BC, BH, NLQ);
  • - Lưu VP;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đinh Văn Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 40/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bùi cao sơn trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger