|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2025/DS-PT
Ngày: 17/02/2025
V/v tranh chấp QSD đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa : Bà Ngô Thị Minh Trang
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai
Bà Hoàng Thị Thu Hường
- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Nhựt Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: ông Trịnh Văn Đương –Kiểm sát viên.
Trong hai ngày 12 và 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 309/2024/TLPT-DS ngày 25 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 80/2024/DS-ST ngày 11/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 11/2025/QĐ-PT ngày 17 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Võ Hoàng Đ – sinh năm 1967 (Có mặt).
Địa chỉ: R T, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Bị đơn: Ông Lê Giang S – sinh năm 1960 (Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).
Địa chỉ: Ấp S, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1952. Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (Vắng mặt).
- Người kháng cáo: bị đơn ông Lê Giang S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Võ Hoàng Đ trình bày:
Năm 2001 ông được Phòng H thuộc Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh K giao khoán đất sản suất với diện tích là 02 ha tại ấp S, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang. Năm 2002 - 2005 ông có thuê người làm vuông bao diện tích 02 ha để trồng tràm nhưng không hiệu quả, sau đó ông có hợp đồng cho ông Nguyễn Hữu T1 thuê nuôi tôm, năm 2004 ông T1 giao lại cho ông Nguyễn Hữu L nuôi tôm nhưng không hiệu quả, cuối năm 2005 ông T1 chấm dứt hợp đồng không thuê đất nữa, năm 2006 ông Lê Giang S vào canh tác nuôi tôm, ông có làm đơn yêu cầu chính quyền giải quyết ông S cho rằng đất sang nhượng của người khác, các lần sau chính quyền tiếp tục mời làm việc ông S có trình giấy mua đất nhưng chính quyền xác định ông S canh tác không đúng vị trí đất, sau đó tiếp tục hòa giải tại Uỷ ban nhân dân (UBND) xã B và vận động ông S trả lại đất cho ông và động viên phía ông trả cho ông S thành quả lao động là 20.000.000 đồng. Ông S không đồng ý trả.
Ông làm đơn khởi kiện yêu cầu ông S trả lại diện tích đất 02 ha tại ấp S, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
Đối với kết quả thẩm định giá và bản vẽ và các tài liệu Tòa án thu thập, ông thống nhất và không có ý kiến gì.
Bị đơn ông Lê Giang S trình bày:
Vào ngày 25/3/2004 ông có sang nhượng một thửa đất trồng lúa với diện tích là 03 ha, đất tọa lạc tại ấp S, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang, đất sang nhượng của ông Nguyễn Minh T, khi đó đất còn hoang hóa, quá trình chuyển nhượng đất giữa ông và ông T thể hiện bằng hợp đồng giao khoán đất của Nông trường H, thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh K có làm giấy tay với nhau, sau khi nhận đất ông đã múc bờ khai hoang nuôi trồng thủy sản từ đó cho đến năm 2007. Năm 2007 ông Đ tranh chấp, UBND xã B và UBND huyện K có giải quyết rất nhiều lần nhưng không xong, hôm nay ông Đ khởi kiện đến Tòa án ông có ý kiến như sau:
Hiện gia đình chỉ có phần đất này đã bỏ công sức tiền của cải tạo như ngày nay, vì vậy ông không đồng ý trả đất cho ông Đ, từ năm 2004 đến 2007 ông Đ không canh tác nên ông không đồng ý giao trả.
Người sang đất cho ông là ông Nguyễn Minh T ở tại ấp Đ, xã G, huyện G, tỉnh Minh Hải (Bạc Liêu). Ông đã đi tìm kiếm ông T theo địa chỉ trên và có yêu cầu thông báo tìm kiếm ông T trên phương tiện thông tin truyền thông là báo đài nhưng đến nay vẫn không gặp được ông T.
Đối với tài liệu Tòa án thu thập và bản vẽ, kết quả thẩm định giá tài sản ông thống nhất và không có ý kiến.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Minh T: Tòa án có tống đạt thông báo thụ lý, thông báo triệu tập cho ông Nguyễn Minh T để lấy lời khai, thông báo phiên họp giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải lần 1, lần 2 và thủ tục xét xử qua phương tiện thông tin truyền thông là báo đài nhưng ông T vẫn không liên hệ Tòa án để làm việc do vậy trong hồ sơ không có lời khai của ông Nguyễn Minh T.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 80/2024/DS-ST ngày 11/7/2024 của TAND huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang đã tuyên xử: buộc ông Lê Giang S giao trả cho ông Võ Hoàng Đ diện tích đất 02 ha, trong tổng diện tích đất 26.473m² theo tờ trích đo địa chính số TĐ-95-2022 ngày 20/7/2022, khu đất thuộc thửa 369 tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại ấp S, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang và Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ do Tòa án kết hợp cùng Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện kiên L1 lập ngày 26/4/2022. Phần diện tích đất còn lại 6.473m² trong tổng diện tích đất 26.473m² ông Lê Giang S được tiếp tục sử dụng nếu không có tranh chấp.
Trường hợp ông S có tranh chấp với ông Nguyễn Minh T thì khởi kiện thành vụ kiện khác khi xác định được địa chỉ nơi ở của ông Nguyễn Minh T.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên chi phí tố tụng, án phí và báo quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 23/7/2024, bị đơn ông Lê Giang S có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung: hủy nội dung bản án sơ thẩm, công nhận diện tích đất theo tờ trích đo địa chính số TĐ-95-2022 ngày 20/7/2022, khu đất thuộc thửa 369 tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại ấp S, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang cho ông S sử dụng.
Tại phiên tòa:
Bị đơn ông Lê Giang S vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo hủy bản án sơ thẩm do Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh đầy đủ chứng cứ. Nguyên đơn Võ Hoàng Đ giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký: thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Thời hạn chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, hủy bản án sơ thẩm do có vi phạm về tố tụng và nội dung giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 68, khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Tòa án cấp sơ thẩm đã tống đạt bản án cho các đương sự đầy đủ và bị đơn kháng cáo bản án trong thời hạn luật định nên kháng cáo hợp lệ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông S cho rằng phần đất bản án sơ thẩm buộc trả cho nguyên đơn là tài sản chung vợ chồng, vợ ông là bà Nguyễn Thị Cẩm T2. Ông S và bà T2 có đăng ký kết hôn, hiện nay không còn chung sống với nhau nhưng chưa làm thủ tục ly hôn. Ngoài ra, hiện nay ông còn một người con là Lê Thủ T3 hiện đang sử dụng đất cùng với ông. Tòa án cấp sơ thẩm không đưa bà Nguyễn Thị Cẩm T2 và con ông S là Lê Thủ T3 tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà T2, anh T3 là vi phạm nghiêm trọng về tố tụng theo quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung:
Bị đơn ông Lê Giang S kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm do Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh đầy đủ các chứng cứ.
Hội đồng xét xử xét thấy: bản án sơ thẩm căn cứ vào danh sách giao khoán đất, hợp đồng giao khoán đất năm 2001 có tên ông Võ Hoàng Đ, nguồn gốc đất bị đơn sử dụng do nhận chuyển nhượng lại của ông Nguyễn Minh T, ông T có hợp đồng giao khoán đất của Nông trường B 1 thuộc phòng H1 vào năm 2001 nhưng không có tên trong danh sách giao khoán để buộc bị đơn trả đất cho nguyên đơn là chưa có căn cứ vững chắc.
Bởi lẽ, mặc dù cấp sơ thẩm có làm văn bản hỏi Tỉnh đội H1 về việc giao khoán đất nhưng chưa được làm rõ việc giao khoán đất cho hai người có trùng vị trí không, trong khi ông S cho rằng theo hợp đồng giao khoán cho ông T có cùng vị trí đất với ông Đ và diện tích giao khoán là 3ha. Ông S đã nhận chuyển nhượng của ông T vào năm 2004 và sử dụng đến năm 2007 ông Đ tranh chấp. Trong quá trình sử dụng ông S không tranh chấp với các hộ có đất giáp ranh.
Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 26/4/2022 thì đất hiện bị đơn ông S đang sử dụng có diện tích đất là 26.473m² tại ấp S, xã B, huyện K (một đầu có chiều ngang 56,74m, một đầu có chiều ngang 58,36m, chiều dài là 480m), nguyên đơn cho rằng khi giao khoán đất cho nguyên đơn là 2ha (tức là 20.000m²) và những người lân cận nguyên đơn cũng được giao 2ha, thời điểm nhận đất vào năm 2001 thì cả thửa đất 2ha có hai đầu giáp đầu kênh 504-503 với chiều ngang 40m, chiều dài 500m. Hiện tại hai đầu kênh vẫn còn hiện hữu nhưng phần diện tích đất ông S sử dụng đã tăng lên 26.473m² do trong quá trình sử dụng ông S đã lấn sang đất của bà Nguyễn Thanh X. Bà X có tranh chấp với ông S tại xã B nhưng sau đó bà X đã bỏ đất không tranh chấp. Tại tòa phúc thẩm ông S thừa nhận bà X có tranh chấp với ông S và có ra xã giải quyết. Đây là tình tiết chưa được làm rõ.
Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ vị trí đất tại Khu bắc TĐ8 đoạn 504-503 khi giao khoán đất là 2ha hay 3ha theo hợp đồng giao khoán, thực tế đất được giao cho ông Đ có đủ theo hợp đồng giao khoán không hay theo hiện trạng sử dụng đất tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ vì hiện hai đầu kênh vẫn còn thì không đủ chiều dài là 500m (hiện trạng theo tờ trích đo là 460m). Hợp đồng giao khoán đất cho ông Nguyễn Minh T có thật không, trong quá trình sử dụng đất ông S có lấn chiếm đất của hộ giáp ranh là bà Nguyễn Thanh X không. Bản án tuyên buộc ông S trả đất cho nguyên đơn 2ha và giao cho bị đơn 6.473m² nhưng không ghi rõ số đo cụ thể và trong biên bản xem xét thẩm định tại chỗ cũng như tờ trích đo không thể hiện rõ kích thước và vị trí đất nên không thể thi hành án được. Hiện ông S có xây dựng nhà tạm trên đất nhưng biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 26/4/2022 không thể hiện có công trình được xây dựng trên vị trí nào của thửa đất.
[3].Với những thiếu sót trên, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Giang S, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang. Hủy bản án dân sự sơ thẩm và chuyển hồ sơ về cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định pháp luật.
[4].Về án phí: Ông S không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 12, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Chấp nhận kháng cáo của bị đơn Lê Giang S.
- - Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 80/2024/DS-ST ngày 11/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
- - Về án phí: Ông S không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại Điều 12, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Án phí sơ thẩm và chi phí tố tụng sẽ được xem xét khi giải quyết lại vụ án.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Minh Trang |
Bản án số 40/2025/DS-PT ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 40/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại đất đã lấn chiếm
