Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/HS-ST

Ngày 24-7-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Nhàn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Lý và bà Hoàng Thị Thoan

Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Hoàng Giang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa:

Ông Phan Thanh Ngọc - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử án hình sự Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình; Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 33/2024/HSST ngày 06/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Phú A; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày 25 tháng 6 năm 1997; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện tại: Thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; con ông Nguyễn Phú Q, sinh năm 1969 và bà: Lê Thị B, sinh năm 1975; vợ: Phạm Thị T, sinh năm 1998; Anh chị em ruột: có 02 người, Nguyễn Phú A là con thứ nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ 09 ngày từ ngày 05/10 - 13/10/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, sau đó bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 13/10/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà theo giấy triệu tập.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Thanh S, sinh năm 1997, địa chỉ: Thôn Đ, xã B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt.
  2. Phạm Thị H, sinh năm 1985, địa chỉ: TDP C M, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt.
  3. Võ Thị C, sinh năm 1977, địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt
  4. Nguyễn Thị Thúy T1, sinh năm 1973, địa chỉ: TDP D phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt, đã có đơn xin xét xử vắng mặt.
  5. Nguyễn Quang Đ, sinh năm 1974, địa chỉ: Thôn N, xã Q, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt
  6. Lê Thị Kim N, sinh năm 1980, địa chỉ: Khu phố E, phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt
  7. Phan Thị Quỳnh T2, sinh năm 1993, địa chỉ: TDP G, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt
  8. Hoàng Thị Lan H1, sinh năm 1972, địa chỉ: Thôn T, xã B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt
  9. Tưởng Văn B1, sinh năm 1989, địa chỉ: Thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt
  10. Nguyễn Thị H2, sinh năm 1987, địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt
  11. Hoàng Thị H3, sinh năm 1977, địa chỉ: TDP A, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ khoảng đầu năm 2023 đến tháng 10 năm 2023, Nguyễn Phú A đã thực hiện việc cho vay lãi nặng đối với nhiều người trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, với hình thức vay tín chấp, trả góp theo ngày. Anh đã đăng trên Facebook lấy tên “H4” kèm số điện thoại 0961.457.xxx để người vay liên hệ vay tiền. Khi cho vay, A đã đến trực tiếp gặp để xem nhà và xác nhận người vay, có một số người vay thì Anh bắt viết giấy vay tiền hoặc thu các giấy tờ cá nhân như thẻ căn cước công dân..., sau đó thỏa thuận với người vay về định mức gói vay, mức tiền trả góp mỗi ngày, thời gian trả góp, tiền phí của khoản vay, người vay đồng ý thì Anh cho vay. Hằng ngày, Anh trực tiếp đến nhà người vay hoặc điện thoại hẹn địa điểm gặp để thu tiền trả góp theo thỏa thuận hoặc người vay sẽ chuyển khoản qua tài khoản Ngân hàng M số 25225288888 mang tên Nguyễn Phú A.

Kết quả điều tra xác định Nguyễn Phú A cho 11 người vay tiền với 18 gói vay, tổng số tiền cho vay là 250.000.000 đồng với mức lãi suất 365%/năm, cụ thể:

1. Chị Nguyễn Thanh S, sinh năm 1997, trú tại thôn Đ, xã B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình vay Nguyễn Phú A 04 gói vay:

- Gói 1: Khoảng giữa tháng 5/2023, chị S vay số tiền 10.000.000đ với thỏa thuận trả góp mỗi ngày 500.000₫ cả gốc và lãi, trả trong 25 ngày, tiền phí 500.000đ. Chị S đã trả đủ gốc và lãi số tiền 12.500.000₫ gồm 10.000.000đ tiền gốc và 2.500.000đ tiền lãi, tiền lãi Anh được thu theo quy định là 136.986đ, tiền lãi thu vượt quá cho phép là 2.363.014đ. Tổng số tiền Nguyễn Phú A thu lợi bất chính là 2.863.014₫.

- Gói 2: Sau khi trả gói 1, vào khoảng tháng 6/2023, chị S vay số tiền 20.000.000đ, với thỏa thuận trả góp mỗi ngày 1.000.000đ cả gốc và lãi, trả trong 25 ngày. Chị S đã trả đủ gốc và lãi số tiền 25.000.000₫ gồm 20.000.000đ tiền gốc và 5.000.000đ tiền lãi, tiền lãi Anh được thu theo quy định là 273.973đ, tiền lãi thu vượt quá cho phép là 4.726.027₫.

- Gói 3: Vào khoảng đầu tháng 8/2023, chị S vay số tiền 20.000.000đ, với thỏa thuận trả góp mỗi ngày 1.000.000đ cả gốc và lãi, trả trong 25 ngày. Chị S đã trả đủ gốc và lãi số tiền 25.000.000₫ gồm 20.000.000đ tiền gốc và 5.000.000đ tiền lãi, tiền lãi Anh được thu theo quy định là 273.973đ, tiền lãi thu vượt quá cho phép là 4.726.027₫.

- Gói 4: Ngày 25/9/2023, chị S vay số tiền 25.000.000đ, với thỏa thuận trả góp mỗi ngày 1.250.000đ cả gốc và lãi, trả trong 25 ngày, tiền phí 1.500.000đ. Chị S đã trả góp được 10 ngày với tổng số tiền là 12.500.000₫ gồm 10.000.000đ tiền gốc và 2.500.000đ tiền lãi, tiền lãi Anh được thu theo quy định là 136.986đ, tiền lãi thu vượt quá cho phép là 2.363.014đ. Chị S còn chưa trả 15.000.000đ tiền gốc cho A.

Từ ngày 25/9/2023 đến ngày 05/10/2023 (thời điểm cơ quan Công an phát hiện và ngăn chặn) tương đương với 11 ngày trả góp gói vay. Số tiền Anh nhằm thu lợi bất chính là 2.599.315₫.

Tổng số tiền Nguyễn Phú A nhằm thu lợi bất chính từ 04 gói vay của chị Nguyễn Thanh S là 14.914.383đ. Tổng số tiền Nguyễn Phú A thực tế đã thu lợi bất chính từ 04 gói vay của chị Nguyễn Thanh S là 14.678.082.

2. Chị Phạm Thị H, sinh năm 1985, trú tại TDP C M, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình vay Nguyễn Phú A 03 gói vay:

- Gói 1: Khoảng giữa tháng 6/2023, chị H vay số tiền 20.000.000đ, với thỏa thuận trả góp mỗi ngày 1.000.000đ cả gốc và lãi, trả trong 25 ngày, tiền phí 500.000đ. Chị H đã trả đủ gốc và lãi số tiền 25.000.000đ gồm 20.000.000đ tiền gốc và 5.000.000đ tiền lãi, tiền lãi. Số tiền lãi tối đa Anh được thu theo quy định pháp luật là 273.973đ, tiền lãi thu vượt quá cho phép là 4.726.027đ. Tổng số tiền Nguyễn Phú A đã thu lợi bất chính của chị H là 5.226.027₫.

- Gói 2: Ngày 24/8/2023, chị H vay với số tiền 10.000.000đ, với thỏa thuận trả góp mỗi ngày 500.000đ cả gốc và lãi, trả trong 25 ngày. Chị H đã trả đủ gốc và lãi số tiền 12.500.000₫ gồm 10.000.000đ tiền gốc và 2.500.000đ tiền lãi. Số tiền lãi tối đa Anh được thu theo quy định pháp luật là 136.986đ, tiền lãi thu vượt quá cho phép là 2.363.014₫.

- Gói 3: Ngày 28/9/2023, chị H vay số tiền 10.000.000đ, với thỏa thuận trả góp mỗi ngày 500.000đ cả gốc và lãi, trả trong 25 ngày. Chị H đã trả góp được 08 ngày (thời điểm cơ quan Công an phát hiện và ngăn chặn) với tổng số tiền là 4.000.000đ gồm 3.200.000đ tiền gốc và 800.000đ tiền lãi, Số tiền lãi tối đa Anh được thu theo quy định pháp luật là 43.836đ, tiền lãi thu vượt quá cho phép là 756.164₫.

Tổng số tiền Nguyễn Phú A nhằm thu lợi bất chính và số tiền thực tế đã thu lợi bất chính từ 03 gói vay của chị Phạm Thị H là 8.345.205₫.

3. Chị Võ Thị C, sinh năm 1977, trú tại thôn T, xã T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình vay Nguyễn Phú A 02 gói vay:

- Gói 1: Ngày 18/6/2023, chị C vay số tiền 10.000.000đ, với thỏa thuận trả góp mỗi ngày 500.000đ cả gốc và lãi, trả trong 25 ngày, tiền phí 1.000.000đ. Chị C đã trả đủ gốc và lãi số tiền 12.500.000đ gồm 10.000.000đ tiền gốc và 2.500.000₫ tiền lãi. Số tiền lãi tối đa Anh được thu theo quy định pháp luật là 136.986đ, tiền lãi thu vượt quá cho phép là 2.363.014đ. Tổng số tiền Nguyễn Phú A đã thu lợi bất chính của chị C là 3.363.014₫.

- Gói 2: Ngày 25/6/2023, chị C vay số tiền 15.000.000đ, với thỏa thuận trả góp mỗi ngày 750.000đ cả gốc và lãi, trả trong 25 ngày, tiền phí 1.500.000đ. Chị C đã trả góp được 15 ngày với tổng số tiền là 11.250.000₫ gồm 9.000.000đ tiền gốc và 2.250.000đ tiền lãi. Số tiền lãi tối đa Anh được thu theo quy định pháp luật là 123.288đ, tiền lãi thu vượt quá cho phép là 2.126.712đ. Tổng số tiền Nguyễn Phú A thu lợi bất chính là 3.626.712đ. Đến thời điểm cơ quan công an phát hiện và ngăn chặn (ngày 05/10/2023) đã hết thời hạn gói vay, do đó xác định số tiền lãi Anh nhằm thu lợi bất chính là 3.544.521đ, tổng số tiền Anh nhằm thu lợi bất chính từ chị C là 5.044.521đ. Chị C còn chưa trả 6.000.000đ tiền gốc cho A.

Tổng số tiền Nguyễn Phú A nhằm thu lợi bất chính từ 02 gói vay của chị Võ Thị C là 8.407.535đ. Tổng số tiền Nguyễn Phú A thực tế đã thu lợi bất chính từ 02 gói vay của chị Võ Thị C là 6.989.726₫.

4. Chị Nguyễn Thị Thúy T1, sinh năm 1973, trú tại TDP D, phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, vay Nguyễn Phú A 01 gói vay:

Ngày 22/7/2023, chị T1 vay số tiền là 5.000.000đ, với thỏa thuận trả góp mỗi ngày 250.000đ cả gốc và lãi, trả trong 25 ngày, tiền phí là 250.000đ. Chị T1 đã trả đủ gốc và lãi số tiền 6.250.000₫ gồm 5.000.000đ tiền gốc và 1.250.000đ tiền lãi. Số tiền lãi Anh được thu theo quy định là 68.493đ, tiền lãi thu vượt quá cho phép là 1.181.507đ. Tổng số tiền Nguyễn Phú A thu lợi bất chính từ gói vay của chị Nguyễn Thị Thúy T3 là 1.431.507₫.

5. Anh Nguyễn Quang Đ, sinh năm 1974, trú tại thôn N, xã Q, Đ, Quảng Bình đã vay 01 gói, cụ thể:

Ngày 30/7/2023, Nguyễn Phú A cho anh Đ vay với số tiền 10.000.000đ, tiền phí 500.000đ, với thỏa thuận trả góp mỗi ngày 500.000đ cả gốc và lãi, trả trong 25 ngày. Gói vay này anh Đ đã trả đủ gốc và lãi số tiền 12.500.000đ gồm 10.000.000₫ tiền gốc và 2.500.000đ tiền lãi. Tiền lãi Anh được thu theo quy định là 136.986₫, tiền lãi thu vượt quá cho phép là 2.363.014đ. Tổng số tiền thu lợi bất chính từ gói vay của anh Nguyễn Quang Đ là 2.863.014đ.

6. Chị Lê Thị Kim N, sinh năm 1980, trú tại khu phố E, phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình vay Nguyễn Phú A 01 gói vay:

Ngày 17/8/2023, chị N vay số tiền 15.000.000đ, với thỏa thuận trả góp mỗi ngày 750.000đ cả gốc và lãi, trả trong 25 ngày, tiền phí 800.000đ. Chị N đã trả đủ với tổng số tiền là 18.750.000đ gồm 15.000.000đ tiền gốc và 3.750.000đ tiền lãi. Số tiền lãi Anh được thu theo quy định là 205.479, tiền lãi thu vượt quá cho phép là 3.544.521đ. Tổng số tiền Nguyễn Phú A thu lợi bất chính từ gói vay của chị Lê Thị Kim N là 4.344.521₫.

7. Chị Phan Thị Quỳnh T2, sinh năm 1993, trú tại TDP G, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình vay Nguyễn Phú A 01 gói vay:

Ngày 21/8/2023, chị T2 vay số tiền 10.000.000đ, thỏa thuận trả góp mỗi ngày 500.000đ cả gốc và lãi, trả trong 25 ngày, tiền phí 700.000đ. Chị T2 đã trả đủ gốc và lãi với tổng số tiền là 12.500.000dd gồm 10.000.000đ tiền gốc và 2.500.000₫ tiền lãi. Số tiền lãi Anh được thu theo quy định là 136.986đ, tiền lãi thu vượt quá cho phép là 2.363.014đ. Tổng số tiền Nguyễn Phú A thu lợi bất chính từ gói vay của chị Phan Thị Quỳnh T2 là 3.063.014₫.

8. Chị Hoàng Thị Lan H1, sinh năm 1972, trú tại thôn T, xã B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình vay Nguyễn Phú A 01 gói vay:

Vào khoảng tháng 8/2023, chị H1 vay số tiền 20.000.000đ, với thỏa thuận trả góp mỗi ngày 1.000.000đ cả gốc và lãi, trả trong 25 ngày, tiền phí 1.200.000đ. Chị H1 đã trả góp được 17 ngày với tổng số tiền là 17.000.000đ gồm 13.600.000đ tiền gốc và 3.400.000đ tiền lãi. Số tiền lãi tối đa Anh được thu theo quy định pháp luật là 186.301đ, tiền lãi thu vượt quá cho phép là 3.213.699đ. Đến thời điểm cơ quan công an phát hiện và ngăn chặn (ngày 05/10/2023) đã hết thời hạn gói vay, do đó xác định số tiền lãi Anh nhằm thu lợi bất chính là 4.726.027. Tổng số tiền Nguyễn Phú A đã thu lợi bất chính của chị H1 là 4.413.699đ. Tổng số tiền A nhằm thu lợi bất chính của chị H1 là 5.926.027đ. Chị H1 còn chưa trả 6.400.000đ tiền gốc cho A.

9. Anh Tưởng Văn B1, sinh năm 1989, trú tại thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vay Nguyễn Phú A 01 gói vay:

Khoảng tháng 8/2023, anh B1 vay số tiền 20.000.000đ, với thỏa thuận trả góp mỗi ngày 1.000.000đ cả gốc và lãi, trả trong 25 ngày, tiền phí 1.600.000đ. Anh B1 đã trả đủ với tổng số tiền là 25.000.000₫ gồm 20.000.000đ tiền gốc và 5.000.000₫ tiền lãi. Số tiền lãi Anh được thu theo quy định là 273.973đ, tiền lãi thu vượt quá cho phép là 4.726.027đ. Tổng số tiền Nguyễn Phú A thu lợi bất chính từ gói vay của anh Tưởng Văn B1 là 6.326.027.

10. Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1987, trú tại thôn T, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình đã vay Nguyễn Phú A 02 gói vay:

- Gói 1: Vào khoảng cuối tháng 8/2023, chị H2 vay số tiền 10.000.000đ, với thỏa thuận trả góp mỗi ngày 500.000đ cả gốc và lãi, trả trong 25 ngày, tiền phí 1.000.000đ. Chị H2 đã trả đủ gốc và lãi số tiền 12.500.000₫ gồm 10.000.000đ tiền gốc và 2.500.000đ tiền lãi. Số tiền lãi tối đa Anh được thu theo quy định pháp luật là 136.986đ, tiền lãi thu vượt quá cho phép là 2.363.014đ. Tổng số tiền Nguyễn Phú A thu lợi bất chính là 3.363.014₫.

- Gói 2: Vào ngày 05/9/2023, chị H2 vay số tiền 10.000.000đ, với thỏa thuận trả góp mỗi ngày 500.000đ cả gốc và lãi, trả trong 25 ngày, tiền phí 1.000.000đ. Chị H2 đã trả góp được 06 ngày với tổng số tiền 3.000.000 đ gồm 2.400.000đ tiền gốc và 600.000đ tiền lãi. Số tiền lãi tối đa Anh được thu theo quy định pháp luật là 32.877đ, tiền lãi thu vượt quá cho phép là 567.123đ. Đến thời điểm cơ quan công an phát hiện và ngăn chặn (ngày 05/10/2023) đã hết thời hạn gói vay, do đó xác định số tiền lãi Anh nhằm thu lợi bất chính là 2.363.014đ. Tổng số tiền A nhằm thu lợi bất chính từ gói vay này của chị H2 là 3.363.014đ. Chị H2 còn chưa trả 7.600.000đ tiền gốc cho A.

Tổng số tiền Nguyễn Phú A nhằm thu lợi bất chính từ 02 gói vay của chị Nguyễn Thị H2 là 6.726.028đ. Tổng số tiền Nguyễn Phú A thực tế đã thu lợi bất chính từ 02 gói vay của chị Nguyễn Thị H2 là 4.930.137₫.

11. Chị Hoàng Thị H3, sinh năm 1977, trú tại TDP A, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình vay Nguyễn Phú A 01 gói vay:

Ngày 30/9/2023, chị H3 vay số tiền 10.000.000đ, thỏa thuận trả góp ngày 500.000đ cả gốc và lãi, trả trong 25 ngày, tiền phí 500.000đ. Chị H3 đã đủ gốc và lãi với tổng số tiền là 12.500.000₫ gồm 10.000.000dd tiền gốc và 2.500.000đ tiền lãi. Số tiền lãi tối đa Anh được thu theo quy định pháp luật là 136.986đ, tiền lãi thu vượt quá cho phép là 2.363.014đ. Tổng số tiền Nguyễn Phú A thu lợi bất chính từ gói vay của chị Hoàng Thị H3 là 2.863.014₫.

Tại bản cáo trạng số: 555/CT-VKS-P3, ngày 03 tháng 6 năm 2024; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình đã truy tố Nguyễn Phú A về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình đã phát biểu lời luận tội, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Phú A phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” áp dụng khoản 1 Điều 201; Điều 36; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 21 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”; Bị cáo phải nộp lại số tiền gốc đã thu 208.200.000 đồng và tiền lãi 20% đã thu 2.852.054 đồng để tịch thu sung quỹ Nhà nước; Buộc bị cáo phải trả lại cho những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan số tiền lãi vượt quá mức quy định và số tiền phí là tiền thu lợi bất chính: 60.247.945 đồng.

Buộc những người vay chưa thanh toán số tiền gốc cho bị cáo phải nộp lại số tiền 41.800.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước; Về vật chứng vụ án: đề nghị xử lý theo quy định. Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Qua xét hỏi tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã nêu và xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

Căn cứ các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật.

Tại phiên toà, vắng mặt những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, xét thấy đã có lời khai đầy đủ của những người này trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo luật định.

[2] Về hành vi phạm tội và tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Phú A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như cáo trạng. Lời khai tại phiên tòa, phù hợp lời khai của bị cáo, lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Từ tháng 5/2023 đến tháng 10/2023, tại địa bàn các huyện Q, B, thị xã B và thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, Nguyễn Phú A cho 11 người vay tiền với 18 gói vay, tổng số tiền cho vay 250.000.000 đồng với mức lãi suất 365%/năm, vượt gấp 18,25 lần mức lãi suất cho vay cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự (20%/năm). Nguyễn Phú A nhằm thu lợi bất chính của 11 người là: 65.210.275 đồng. Số tiền thực tế bị cáo đã thu lợi bất chính của 11 người là 60.247.945 đồng. Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Phú A đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo Nguyễn Phú A thực hiện là cố ý, không những trực tiếp xâm hại đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng mà còn làm cho người vay tiền lâm vào hoàn cảnh khó khăn, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo đã lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của người dân cần tiền để cho vay với lãi suất cao 365%/năm, vượt gấp 18,25 lần so với quy định của Bộ luật dân sự nhằm thu lợi bất chính là vi phạm pháp luật. Nhưng xét về nhân thân, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tham gia và hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Vì vậy cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

HĐXX thấy cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo cũng là phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[5]. Về biện pháp tư pháp và trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 BLHS. Bị cáo A đã cho vay 11 người với tổng số tiền 250.000.000 đồng và đã thu được 271.300.000 đồng.

[5.1]. Số tiền gốc đã thu là: 208.200.000đ, tiền lãi được phép (20%/năm) đã thu là: 2.852.054đ, khoản tiền phí đã thu được: 11.050.000đ. Cả ba khoản này được xác định là công cụ phương tiện phạm tội, do đó buộc Nguyễn Phú A phải nộp lại số tiền 222.102.054 đồng để tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

[5.2]. Về số tiền những người vay chưa thanh toán cho bị cáo, đây cũng là công cụ phạm tội. Vì vậy buộc những người vay phải nộp lại để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước, cụ thể: Buộc Nguyễn Thanh S phải nộp lại số tiền 15.000.000 đồng, Phạm Thị H nộp lại 6.800.000 đồng, Võ Thị C nộp lại 6.000.000 đồng, Hoàng Thị Lan H1 nộp lại 6.400.000 đồng, Nguyễn Thị H2 nộp lại 7.600.000 đồng để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[5.3]. Về số tiền 49.197.945 đồng do bị cáo thu lãi vượt quá là tiền thu lợi bất chính từ người vay, cần buộc bị cáo trả lại cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, cụ thể: trả lại Nguyễn Quang Đ: 2.363.014 đồng; trả lại Nguyễn Thanh S: 14.178.082 đồng; trả lại Phạm Thị H: 7.845.205 đồng; trả lại Võ Thị C: 4.489.726 đồng; trả lại Nguyễn Thị Thúy T1: 1.181.507 đồng; trả lại Lê Thị Kim N: 3.544.521 đồng; trả lại Phan Thị Quỳnh T2: 2.363.014 đồng; trả lại Hoàng Thị Lan H1: 3.213.699 đồng; trả lại Tưởng Văn B1: 4.726.027 đồng; trả lại Nguyễn Thị H2: 2.930.137 đồng; trả lại Hoàng Thị H3: 2.363.014 đồng.

[6]. Ngoài ra, quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Phú A còn khai nhận đã cho những người sau vay tiền, gồm: chị “H5” ở T, L; anh “Hợi” ở H, B; chị “Phương Khánh” ở Đ, Đ; chị “H1” ở Q, B; chị “T4” ở B, Đ; chị “Quỳnh” ở L, Đ; chị “L” ở B, Đ; chị “Như” ở B, Đ; chị “H6” ở B, Đ; chị “Linh Giang” ở T, B; chị “Linh Lân” ở N, Đ; chị H1” ở B, Đ; chị “L” ở Đ, Đ; chị “Thúy” ở Đ, Đ; chị Nguyễn L1” ở T, B; chị “Thu Al” ở B, Đ; chị “H1” ở phường B, TX B; chị “Thư” ở N, Đ; chị “Nguyên” ở phường B, TX B; chị “Lê N1” ở B, Đ; chị “Nhàn” ở G, Quảng Ninh; chị “Thúy” ở Đ, Đ; chị “H8” ở S, L; chị “Liên” ở Đ, Đ; anh “Sơn Hà” ở Đ, Đ; anh “Lân” ở Đ, Đ; anh “Hóa” ở Đ, Đ; chị “Đào” ở Q, B; chị Mỹ D” ở H, Đ; chị “Thảo” ở Đ, Đ, những người này không có số điện thoại liên lạc, thông tin họ tên, địa chỉ cụ thể. Đối với 05 trường hợp gồm chị Phạm Thu N2, sinh năm 1980, trú tại phường B, thị xã B; chị Hoàng Thị Như Q1, sinh năm 1993, trú tại thôn L, xã L, huyện Q; chị Bùi Thị H7, sinh năm 1968, trú tại phường Đ, thành phố Đ; chị Hoàng Thị Thu H8, sinh năm 2002, trú tại xã B, thành phố Đ; anh Trần Doãn T5, sinh năm 1993, trú tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, hiện những người này không có mặt tại địa phương. Đối với 04 trường hợp gồm chị Nguyễn Thị T6, sinh năm 1975, trú tại phường B, thị xã B, chị Nguyễn Thị Thu H9, sinh năm 1985, trú tại phường Đ, thành phố Đ; chị Nguyễn Thị Thanh H10, sinh năm 1984, trú tại phường Đ, thành phố Đ, chị Trần Thị N3, sinh năm 1980, trú tại phường Đ, thành phố Đ, Cơ quan điều tra đã làm việc nhưng những người này khẳng định không quen biết và không vay tiền của Nguyễn Phú A. Vì vậy, những trường hợp có liên quan nêu trên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh nếu có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

[7.1]. Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max màu trắng của bị cáo;
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen của bị cáo;

Do bị cáo dùng liên lạc với những người vay.

[7.2]. Đối với các vật chứng là giấy tờ tuỳ thân, giấy tờ cá nhân của người vay không phải là công cụ, phương tiện phạm tội do đó được trả lại cho chủ sở hữu, gồm:

  • - 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 73F1-559.49 số 73005650 mang tên Trần Thị Thúy H11;
  • - 01 căn cước công dân số [...] mang tên Phan Thị Quỳnh T2;
  • - 01 giấy phép lái xe hạng A1 số AG886595 mang tên Tưởng Văn B1;
  • - 01 căn cước công dân số [...] mang tên Hoàng Thị H1.

[8]. Bị cáo phải chịu án phí hình sự, án phí dân sự sơ thẩm theo định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội. Bị cáo A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ và án phí dân sự sơ thẩm là 49.197.945 đồng x 5% = 2.459.897 đồng.

[9]. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phú A phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự".

2. Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phú A 20 (hai mươi) tháng cải tạo không giam giữ, nhưng trừ đi thời gian 09 (chín) ngày tạm giữ bằng 27 (hai mươi bảy) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Q, tỉnh Thanh Hóa nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Nguyễn Phú A cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa để giám sát, giáo dục. Gia đình của bị cáo Nguyễn Phú A có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

3. Về biện pháp tư pháp và trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

3.1. Tịch thu sung quỹ Nhà nước tại Nguyễn Phú A số tiền: 222.102.054 đồng

3.2. Buộc những người vay chưa trả tiền gốc, phải nộp lại để sung quỹ Nhà nước, cụ thể:

  • - Nguyễn Thanh S phải nộp lại số tiền 15.000.000 đồng,
  • - Phạm Thị H phải nộp lại số tiền 6.800.000 đồng,
  • - Võ Thị C phải nộp lại số tiền 6.000.000 đồng,
  • - Hoàng Thị Lan H1 phải nộp lại số tiền 6.400.000 đồng,
  • - Nguyễn Thị H2 phải nộp lại số tiền 7.600.000 đồng.

3.3. Buộc bị cáo Nguyễn Phú A chịu trách nhiệm trả lại cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan số tiền 49.197.946đ do bị cáo thu lãi vượt quá, số tiền cụ thể phải trả:

  • - Nguyễn Thanh S: 14.178.082 đồng;
  • - Phạm Thị H: 7.845.205 đồng;
  • - Võ Thị C: 4.489.726 đồng;
  • - Nguyễn Thị Thúy T1: 1.181.507 đồng;
  • - Nguyễn Quang Đ: 2.363.014 đồng;
  • - Lê Thị Kim N: 3.544.521 đồng;
  • - Phan Thị Quỳnh T2: 2.363.014 đồng;
  • - Hoàng Thị Lan H1: 3.213.699 đồng;
  • - Tưởng Văn B1: 4.726.027 đồng;
  • - Nguyễn Thị H2: 2.930.137 đồng;
  • - Hoàng Thị H3: 2.363.014 đồng.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

4. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS

4.1. Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max màu trắng;
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen;

(Vật chứng hiện có tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình theo Biên bản giao nhận ngày 11/6/2024 giữa Công an Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q với Cục THADS tỉnh Q).

4.2. Đối với các vật chứng là giấy tờ tuỳ thân, giấy tờ cá nhân của người vay không phải là công cụ, phương tiện phạm tội do đó được trao trả cho chủ sở hữu, gồm:

  • - Trả lại chị Trần Thị Thúy H11: 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 73F1-559.49 số 73005650;
  • - Trả lại chị Phan Thị Quỳnh T2: 01 căn cước công dân số [...];
  • - Trả lại anh Tưởng Văn B1: 01 giấy phép lái xe hạng A1 số AG886595;
  • - Trả lại chị Hoàng Thị H1, 01 căn cước công dân số [...] mang tên.

Chuyển toàn bộ vật chứng là giấy tờ tùy thân hiện có trong hồ sơ vụ án sang Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình để trả lại theo quy định của pháp luật.

5. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí

Buộc Nguyễn Phú A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm 2.459.897 đồng.

Trong trường hợp bản án thi hành án theo quy định tại Điều 2 luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án hạn trong 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Theo khoản 1 Điều 262 BLTTHS;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;
  • - Vụ GĐKT 1TANDTC (khi án sơ thẩm có HL);
  • - Phòng HSNVCS CAQB (PC06);
  • - Lưu hồ sơ; án văn, VP TAQB.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Hoàng Thị Thanh Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 40/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Từ tháng 5/2023 đến tháng 10/2023, tại địa bàn các huyện Quảng Trạch, Bố Trạch, thị xã Ba Đồn và thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, Nguyễn Phú Anh cho 11 người vay tiền với 18 gói vay, tổng số tiền cho vay 250.000.000 đồng với mức lãi suất 365%/năm, vượt gấp 18,25 lần mức lãi suất cho vay cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự (20%/năm). Nguyễn Phú Anh nhằm thu lợi bất chính của 11 người là: 65.210.275 đồng. Số tiền thực tế bị cáo đã thu lợi bất chính của 11 người là 60.247.945 đồng. Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Phú Anh đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 BLHS.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger