Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 03-12-2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thông

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Gia Lương

Bà Hoàng Thị Hải Hường

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Như Ý - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 39/2024/TLPT-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 106/2024/HNGĐ-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXPT-HNGĐ ngày 04/11/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Trịnh Văn T, sinh năm 1981(Có mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang

Bị đơn: Chị Lại Thị M, sinh năm 1982 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai tại Toà án, nguyên đơn anh Trịnh Văn T trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Lại Thị M kết hôn với nhau vào ngày 10/11/2006, trước khi cưới có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Kết hôn xong, chị M về làm dâu nhà anh tại thôn T, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tình cảm vợ chồng ban đầu hoà thuận, hạnh phúc. Đến tháng 5/2022 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng sống lạnh nhạt không có hạnh phúc. Năm 2022, anh nộp đơn khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết ly hôn và Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn đã giải quyết cho anh được ly hôn với chị M. Không đồng ý với bản án của Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên, chị M kháng cáo. Tại cấp phúc thẩm anh rút đơn về đoàn tụ. Tuy nhiên, cuộc sống hôn nhân sau khi đoàn tụ vợ chồng không hạnh phúc, hiện vợ chồng đã ly thân không còn quan tâm, chăm sóc gì với nhau. Nay anh đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Lại Thị M.

- Về con chung: Anh và chị Lại Thị M có 02 con chung là Trịnh Văn V, sinh ngày 25/3/2008 và Trịnh Văn H, sinh ngày 10/12/2009. Nay ly hôn, anh có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả 02 con chung. Cấp dưỡng nuôi con chung anh và chị M tự thoả thuận, anh không đề nghị Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết

Bị đơn là chị Lại Thị M trình bày: Chị xác nhận thời điểm kết hôn như anh T trình bày là đúng. Tuy nhiên, mâu thuẫn vợ chồng như anh T trình bày không đúng, theo chị mâu thuẫn vợ chồng là do anh T chơi bời, rượu chè, dẫn đến vợ chồng hay cãi nhau. Từ tháng 9/2023, chị và anh T sống ly thân. Bản thân chị vẫn mong muốn vợ chồng về đoàn tụ nhưng vợ chồng chị không thể nói chuyện được với nhau. Nay anh T khởi kiện ly hôn, quan điểm của chị là không đồng ý. Nếu anh T kiên quyết đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Về con chung: Chị và anh Trịnh Văn T có 02 con chung là Trịnh Văn V, sinh ngày 25/3/2008 và Trịnh Văn H, sinh ngày 10/12/2009. Nay ly hôn, chịđể nghị giải quyết theo quy định của pháp luật và theo nguyện vọng của các cháu. Cấp dưỡng nuôi con chung: Chị và anh T tự thoả thuận, chịkhông đề nghị Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị yêu cầu anh T phải trích chia cho chị công sức đóng góp trong suốt quá trình chung sống và 03 sào đất chị mua năm 2006, tổng giá trị là 600.000.000 đồng. Hiện tại chưa cung cấp đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo, chị đề nghị Toà án cho chị thời gian hết ngày 10/5/2024 (dương lịch), chị sẽ nộp đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ cho Toà án. Nếu hết hạn trên, chị không nộp cho Toà án đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo coi như chị từ bỏ quyền này, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật

Với nội dung trên bản án sơ thẩm số: 106/2024/HNGĐ-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn đã căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trịnh Văn T

- Quan hệ hôn nhân: Cho anh Trịnh Văn T và chị Lại Thị M được ly hôn.

- Về con chung: Giao cho anh Trịnh Văn T trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trịnh Văn V, sinh ngày 25/3/2008 và giao chị Lại Thị M trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trịnh Văn H, sinh ngày 10/12/2009 cho đến khi các con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết, vì đương sự không yêu cầu. Sau khi ly hôn, anh Trinh Văn T1 và chị Lại Thị M có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh T1, chị M thực hiện quyền này.

- Về tài sản chung: Do yêu cầu của chị M đưa ra sau khi Tòa án mở phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên HĐXX cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết trong vụ án này. Chị M có quyền khởi kiện bằng vụ án khác nếu có yêu cầu.

- Về án phí: Anh Trịnh Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng là tiền tạm ứng án phí mà anh Trịnh Văn T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo Biên lai thu số 0005959 ngày 25 tháng 01 năm 2024.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định quyền kháng cáo bản án cho các đương sự.

Ngày 29/8/2024 chị Lại Thị M kháng cáo bản án sơ thẩm nói trên. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét không chấp nhận nguyện vọng xin ly hôn của anh T, tạo điều kiện để vợ chồng anh chị có cơ hội đoàn tụ.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn anh Trịnh Văn T không rút đơn khởi kiện, bị đơn chị Lại Thị M không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Chị Lại Thị M trình bày: Chị giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Trịnh Văn T vẫn còn. Chị đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của chị để gia đình chị được đoàn tụ, vợ chồng cùng nhau nuôi dạy các con.

Anh Trịnh Văn T trình bày: Anh không đồng ý với kháng cáo của chị Lại Thị M. Anh xác định tình cảm vợ chồng giữa anh và chị M không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng không thể sống với nhau được nữa. Anh đề nghị Toà án giải quyết cho vợ chồng anh chị ly hôn.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn đều có mặt tại phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Xử:

- Không chấp nhận kháng cáo của chị Lại Thị M. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 106/2024/HNGĐ-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Về án phí: Chị Lại Thị M phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ và thẩm tra chứng cứ tại phiên toà, ý kiến tranh luận, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét yêu cầu kháng cáo của chị Lại Thị M Hội đồng xét xử thấy:

Về hôn nhân: Anh Trịnh Văn T và chị Lại Thị M kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu trước khi kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang, được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 10/11/2006. Do vậy đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án cả anh T, chị M đều thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn và hiện vợ chồng đã ly thân từ tháng 09/2023 đến nay. Anh T đã làm đơn ly hôn chị M năm 2022, sau khi anh T rút đơn đoàn tụ thì tình cảm vợ chồng không cải thiện. Thực tế anh T, chị M không còn quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau, không sống chung cùng nhau là không đảm bảo theo Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, có căn cứ xác định hôn nhân giữa anh T, chị M đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá và căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, xử cho anh Trịnh Văn T được ly hôn chị Lại Thị M là đúng theo quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo của chị M, Hội đồng xét xử thấy: Tại phiên tòa, anh T xác định tình cảm vợ chồng đã hết, mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Vợ chồng anh chị đã ly thân . Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của chị M về quan hệ hôn nhân.

[2]. Từ nhận định phân tích trên, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của chị Lại Thị M. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí: Do kháng cáo của chị M không được chấp nhận, nên chị M phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội nhưng được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm chị M đã nộp tại Chi cục thi hành án huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị. Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Xử:

1. Không chấp nhận kháng cáo của chị Lại Thị M. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 106/2024/HNGĐ-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

2. Về án phí: Chị Lại Thị M phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm chị M đã nộp tại biên lai thu số 0006331 ngày 05/9/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Lại Thị M đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -TAND huyện Lục Ngạn;
  • -VKSND huyện Lục Ngạn;
  • -Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • -UBND xã Hồng Giang, huyện Lục Ngạn;
  • -Cổng thông tin điện tử TAND;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu Hs, THCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trung Thông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HNGĐ-PT ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 40/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Trịnh Văn T ly hôn, tranh chấp nuôi con chung với chị Lại Thị M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger