Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỘC CHÂU

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/HS-ST

Ngày 29 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Hải Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lò Thị Minh và bà Cầm Thị Đoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Lệ Giang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Nghĩa, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2024/TLST-HS ngày 07/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 31/2024/QĐXXST-HS ngày 15/11/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Trường P, sinh ngày: 20/01/2006 tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi ở: Thôn V, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Đình L và bà Nguyễn Thị N; bị cáo có chưa vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/9/2024 đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án: Anh Nguyễn Văn C - sinh năm 2000, nơi cư trú: Bản T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 02/9/2024 tổ công tác Công an xã C làm nhiệm vụ tại bản T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La tiến hành kiểm tra đối với Nguyễn Trường P đang điều khiển xe máy BKS 26AA-172.37 phía sau chở Nguyễn Đình T, sinh năm 2005, nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Qua kiểm tra phát hiện trong chiếc túi đeo chéo trên người của P có 01 túi zip nilon màu trắng, viền xanh bên trong đựng 02 viên nén màu hồng và một tờ giấy ăn được quấn lại màu vàng bên trong đựng 06 viên nén màu xanh nghi là ma túy. Nguyễn Trường P khai nhận đó là gói ma túy tổng hợp, thường gọi là "kẹo" của P cất giấu sử dụng cho bản thân, việc P cất giấu ma túy T không biết và không liên quan. Căn cứ vào hành vi vi phạm của Nguyễn Trường P, tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng dẫn giải Nguyễn Trường P bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an huyện M điều tra làm rõ, bàn giao tang vật nghi là ma túy thu giữ của Nguyễn Trường P cho V Bộ C1 để tiến hành xác định khối lượng và giám định chất ma tuý.

Ngày 05/9/2024, V Bộ C1 đã tiến hành xác định khối lượng 02 viên nén màu hồng được 0,271 gam; 06 viên nén màu xanh được 2,359 gam, lấy toàn bộ làm mẫu để giám định.

Tại Kết luận giám định số 6799 ngày 06/9/2024 của V Bộ C1 kết luận:

Mẫu các viên nén màu xanh trong niêm phong 074643 gửi giám định là ma túy, loại MDMA, Methamphetamine và Ketamine, khối lượng mẫu là 2,359 gam.

Không tìm thấy chất ma túy trong mẫu các viên nén màu hồng trong niêm phong số 074642 gửi mẫu giám định là ma túy. Khối lượng mẫu là 0,271 gam.

Tổng khối lượng vật chứng thu giữ là 2,63 gam.

Quá trình điều tra, Nguyễn Trường P khai nhận: Bản thân có sử dụng chất ma túy và đang sinh sống tại thôn V, xã T, huyện T, TP Hà Nội. Tháng 7/2024 P mượn chiếc xe máy BKS 26AA-172.37 của Nguyễn Văn C, sinh năm 2000, nơi cư trú: Bản T, xã C, huyện M là anh trai ruột của P để đi lại. Khoảng 23 giờ ngày 01/9/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy tổng hợp nên P đi bộ ra trước của chùa V1 tại Thôn V, xã T, huyện T, TP Hà Nội để tìm ma túy mang về sử dụng, khi đi đến trước cửa chùa P1 thấy một nam thanh niên không quen biết, đeo khẩu trang đi xe Honda SH đỗ tại đây, P đã hỏi mua được của người đó 08 viên ma túy tổng hợp "kẹo" gồm có màu xanh và màu hồng với giá 1.800.000 đồng. Sau khi nhận được số ma túy, P cất vào trong túi quần rồi mang về cho vào bên trong chiếc túi của P để trên đầu giường tại nhà. Sau đó P sang nhà em họ là Nguyễn Đình T để rủ T cùng đi lên huyện M, tỉnh Sơn La chơi lễ hội 2/9. T đồng ý. Khoảng 01 giờ ngày 02/9/2024 P lấy chiếc túi đeo chéo bên trong đựng ma túy đeo vào người rồi điều khiển chiếc xe máy BKS: 26AA- 172.37 chở T đi lên huyện M, tỉnh Sơn La. Đến khoảng 10 giờ 20 phút, ngày 02 tháng 9 năm 2024 khi P đang điều khiển xe chở T đi về đến địa phận bản T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La thì gặp tổ công tác Công an xã C, huyện M làm nhiệm vụ kiểm tra, phát hiện thu giữ số ma túy P đang cất giấu trong chiếc túi đeo chéo của P, việc P cất giấu ma túy Nguyễn Đình T không biết.

Tại phiên tòa bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày ý kiến, giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo Nguyễn Trường P nhận tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Cáo trạng số 189/CT-VKS ngày 04/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị can Nguyễn Trường P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:

  1. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường P từ 03 năm đến 04 năm tù.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

  2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Ghi nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã giao trả chiếc xe máy Espero, BKS 26AA-172.37 cho Nguyễn Văn C quản lý, sử dụng.

    Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ghi “Bộ C1, V số 6799/KL-KTHS, kính gửi Cơ quan CSĐT Công an huyện M, tỉnh Sơn La (Mẫu vật hoàn trả sau giám định)”; Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ghi “Bộ C1, V số 6799/KL-KTHS, kính gửi Cơ quan CSĐT Công an huyện M, tỉnh Sơn La (Mẫu vật hoàn trả sau giám định)”; 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong đựng Test thử ma túy của Nguyễn Trường P; 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong đựng Test thử ma túy của Nguyễn Đình T; 01 chiếc túi vải thu giữ của Nguyễn Trường P.

  3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án. Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trường P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra, số ma túy bị tổ công tác Công an xã Chiềng Hắc thu giữ của bị cáo vào ngày 02/9/2024 có nguồn gốc mua được của một người đàn ông, mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an xã C lập vào hồi 10 giờ 30 phút ngày 02/9/2024; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; bản Kết luận giám định số 6799 ngày 06/9/2024 của V Bộ C1 kết luận: Mẫu các viên nén màu xanh trong niêm phong số 074643 gửi giám định là ma túy, loại MDMA, Methamphetamine và Ketamine, khối lượng mẫu là 2,359 gam. Không tìm thấy chất ma túy trong mẫu các viên nén màu hồng trong niêm phong số 074642 gửi mẫu giám định là ma túy. Khối lượng mẫu là 0,271 gam. Tổng khối lượng vật chứng thu giữ là 2,63 gam. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ của cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Nguyễn Trường P là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Ngày 02/9/2024 bị cáo Nguyễn Trường P đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 2,359 gam MDMA, Methamphetamine và Ketamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự có mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo Nguyễn Trường P không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

[3]Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét áp dụng đối với bị cáo.

Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng sử dụng chất ma túy, sống chung với gia đình, không có tài sản có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[5] Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe máy Espero, BKS 26AA-172.37 xét thấy là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn C, việc Nguyễn Trường P sử dụng chiếc xe máy vào việc phạm tội C không biết và không liên quan. Ngày 30/10/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã giao trả chiếc xe máy cho Nguyễn Văn C là phù hợp cần ghi nhận.

Đối với 01 phong bì niêm phong ghi “Bộ C1, V số 6799/KL-KTHS, kính gửi Cơ quan CSĐT Công an huyện M, tỉnh Sơn La (Mẫu vật hòan trả sau giám định)”; 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong đựng Test thử ma túy của Nguyễn Trường P; 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong đựng Test thử ma túy của Nguyễn Đình T; 01 chiếc túi vải thu giữ của Nguyễn Trường P xét thấy là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; vật không có giá trị sử dụng. Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trường P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7] Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[8] Về thời hạn tạm giam: Thời hạn tạm giam còn lại của bị cáo còn dưới 45 ngày, do đó Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.

[9] Về các vấn đề khác:

Đối với Nguyễn Đình T đi cùng Nguyễn Trường P, Nguyễn Đình T hoàn toàn không biết việc P cất giấu ma túy, do đó không đề cập đến việc xử lý.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Trường P quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường P 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù.

    Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 02/9/2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

  2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Ghi nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã giao trả chiếc xe máy Espero, BKS 26AA-172.37 cho Nguyễn Văn C quản lý, sử dụng.

    Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ghi “Bộ C1, V số 6799/KL-KTHS, kính gửi Cơ quan CSĐT Công an huyện M, tỉnh Sơn La (Mẫu vật hoàn trả sau giám định)”; 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong đựng Test thử ma túy của Nguyễn Trường P; 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong đựng Test thử ma túy của Nguyễn Đình T; 01 chiếc túi vải thu giữ của Nguyễn Trường P.

    (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 22/BBVC-CCTHA ngày 05/11/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộc Châu).

  3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Trường P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

    Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 29/11/2024).

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Sơn La;
  • - Viện KSND huyện Mộc Châu;
  • - Công an huyện Mộc Châu;
  • - Chi cục THADS huyện Mộc Châu;
  • - Trại giam;
  • - THA HS;
  • - Bị cáo;
  • - Sở tư pháp tỉnh Sơn La (khi án có hiệu lực);
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Tăng Thị Hải Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 40/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trường P tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger