|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ TỈNH QUẢNG NGÃI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 40/2024/HNGĐ-ST Ngày: 21-9-2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hồng Mỹ
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Phạm Hoà
- Bà Trương Thị Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Lệ Quân- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên toà: Bà Lý Tường Vy- Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 106/2024/TLST – HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tường V, sinh năm 1991
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1987
Cùng địa chỉ: Xóm F, thôn N, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi
Nguyên đơn và bị đơn có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 29/6/2024 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tường V trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn Đ tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 04/10/2017. Trong quá trình chung
sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Đ chơi bài bạc, gây ra nợ nần và còn ngoại tình, chị đã đứng ra trả 300.000.000 đồng để anh Đ lo tu chí làm ăn và khuyên giải nhưng anh Đ không thay đổi, vẫn tiếp tục cờ bạc và có quan hệ tình cảm với người khác. Nay tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị ly hôn anh Đ.
Về con chung: Vợ chồng chị V, anh Đ có 02 con chung là Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 03/4/2018 và Nguyễn Khánh N, sinh ngày 31/10/2021. Hiện tại chị là dược sĩ bán thuốc Tây tại nhà. Khi ly hôn chị V yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai con, chị yêu cầu anh Đ cấp dưỡng cho con chung, mỗi cháu, mỗi tháng là 1.500.000 đồng.
Về tài sản chung: Chị V không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Chị V khai không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bị đơn anh Nguyễn Văn Đ trình bày:
Anh thừa nhận những lời trình bày của chị Nguyễn Thị Tường V về quan hệ hôn nhân là đúng. Vợ chồng anh mâu thuẫn xuất phát từ việc không rõ ràng về tiền bạc. Mặt khác do làm ăn thua lỗ nên anh có nợ tiền người khác, số nợ này vợ chồng anh đã giải quyết xong. Tuy nhiên từ Tết cho đến nay phần ai nấy sống, không ai còn quan tâm đến nhau. Do vậy chị V cương quyết ly hôn, anh đồng ý.
Về con chung: Anh và chị V có 02 con chung là Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 03/4/2018 và Nguyễn Khánh N, sinh ngày 31/10/2021. Hiện tại anh đang làm thợ sửa chữa nhôm sắt. Khi ly hôn anh yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu A, không yêu cầu chị V cấp dưỡng. Trường hợp Toà án giao cả hai con cho chị V nuôi, anh không đồng ý cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Anh Đ không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Anh Đ khai không có.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự:
Thẩm phán có một số sai sót trong quá trình chuẩn bị xét xử nhưng đã khắc phục. Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Tường V và anh Nguyễn Văn Đ. Về con chung: giao hai con chung cho chị V nuôi; anh Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con mỗi tháng, mỗi cháu 1.500.000 đồng; tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết, nợ chung không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tường V có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Văn Đ ở thôn N, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tường V và anh Nguyễn Văn Đ tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi, do vậy quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh Đ là hoàn toàn hợp pháp. Theo chị V, vợ chồng chị mâu thuẫn là do anh Đ không lo làm ăn, gây nợ nần và còn ngoại tình. Về phía anh Đ tại phiên tòa anh thừa nhận trước đây mình có cờ bạc nhưng khi có vợ, anh đã từ bỏ không còn chơi cờ bạc, công việc làm ăn không đạt nên có nợ nhưng đã xử lý xong, vợ chồng có mâu thuẫn nên anh đồng ý ly hôn. Mặt khác chị V và anh Đ đã không còn tình cảm và không còn quan tâm đến nhau. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị V và anh Đ đã ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ vào Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử ghi nhận việc tự nguyện ly hôn giữa chị V và anh Đ.
[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Tường V và anh Nguyễn Văn Đ có hai con chung tên Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 03/4/2018 và Nguyễn Khánh N, sinh ngày 31/10/2021, khi ly hôn chị V và anh Đ đều muốn nuôi con. Xét yêu cầu nuôi con của hai bên, Hội đồng xét xử xét thấy, hai cháu đều dưới 7 tuổi, từ trước đến nay hai cháu sống bên phía ngoại và gia đình chị V, cả hai cháu đều cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ. Do đó để đảm bảo điều kiện về mọi mặt cho cháu A và cháu N nên giao hai cháu cho chị V tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng cho con: Chị V yêu cầu mức cấp dưỡng mỗi cháu, mỗi tháng 1.500.000 đồng, anh Đ không đồng ý. Xét yêu cầu của chị V, Hội đồng xét xử xét thấy, anh Đ là người không trực tiếp nuôi con nên phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình. Về mức cấp dưỡng để chi phí cho việc chăm sóc, giáo dục cháu A và cháu N, Hội đồng xét xử xét thấy anh Đ có công việc sửa chữa nhôm sắt, có thu nhập, do đó so với nhu cầu tình hình thực tế tại địa phương thì mức cấp dưỡng mà chị V đưa ra để nuôi con là có cơ sở và phù hợp với Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Thời gian cấp dưỡng kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi cháu A và cháu N đủ 18 tuổi.
[4] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị V và anh Đ khai không có.
[5] Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Thị Tường V tự nguyện chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, anh Nguyễn Văn Đ phải chịu án 300.000 đồng án phí cấp dưỡng.
[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 55, 81, 83, 84 và 110 Luật hôn nhân và gia đình;
- - Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội,
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Ghi nhận việc tự nguyện ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Tường V và anh Nguyễn Văn Đ.
- Về con chung: Giao hai con chung tên Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 03/4/2018 và Nguyễn Khánh N, sinh ngày 31/10/2021 cho chị Nguyễn Thị Tường V được tiếp tục nuôi dưỡng.
Anh Nguyễn Văn Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con mỗi tháng, mỗi cháu 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng). Thời gian cấp dưỡng kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi cháu Nguyễn Hoàng A và Nguyễn Khánh N đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự.
Anh Nguyễn Văn Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được quyền cản trở.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị V và anh Đ khai không có.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tường V tự nguyện chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002673 ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
Anh Nguyễn Văn Đ phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng cho con.
Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Hồng Mỹ |
Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST ngày 21/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 40/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cho chị V được ly hôn anh Đ
