Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ ĐỨC PHỔ

TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/DS-ST

Ngày: 16-9-2024

V/v “Tranh chấp đòi lại tài sản là

quyền sử dụng đất, buộc đốn hạ cây

trên đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hồng Mỹ

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Huỳnh Thị Thuỳ Trâm
  2. Bà Trương Thị Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh Ngân- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Xuân Thu- Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 33/2023/TLST-DS ngày 08 tháng 3 năm 2023 về việc: “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất, buộc đốn hạ cây trên đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2024/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 114/2024/QĐST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1970

Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Văn T1, sinh năm 1967

Địa chỉ: B L, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; theo hợp đồng uỷ quyền ngày 19/10/2022.

Bị đơn: Bà Đỗ Thị H (Đ), sinh năm 1967

Địa chỉ: Thôn H, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi;

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Huỳnh Văn T1, sinh năm 1965

Địa chỉ: B L, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bà Huỳnh Thị H1, sinh năm 1950

Địa chỉ: Thôn V, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.

Nguyên đơn bà T, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông T1 có mặt; bị đơn bà H vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông T1, bà H1 có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 15/02/2023, đơn khởi kiện bổ sung, tại bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà Huỳnh Thị T và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Huỳnh Minh T2, ông T2 đồng thời cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Cha mẹ bà T là ông Huỳnh K, bà Nguyễn Thị T3 có một khu vườn được nhà nước cấp giấy chứng nhận vào năm 2006 tại thửa đất 267 tờ bản đồ số 21 xã P, diện tích 1021 m². Cạnh phía Tây vườn của cha mẹ bà là 31,2m. Cạnh phía Bắc giáp với đất của bà Đỗ Thị H, cạnh phía Nam giáp đất ông Huỳnh C, cạnh phía Đông giáp vườn ông B và góc vườn của bà Huỳnh Thị C.

Mẹ bà T chết năm 2013. Đến năm 2018 cha bà T mới tách thửa đất này thành ba thửa đất cho ba chị em là ông Huỳnh Minh T2, bà Huỳnh Thị H1 và bà. Bà sử dụng thửa 1350 tờ bản đồ số 21, diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 338 m². Ông T2 sử dụng thửa 1351, diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 364 m², bà H1 sử dụng thửa 1352, diện tích theo giấy chứng nhận là 369 m².

Thửa đất 1350 của bà phía Bắc giáp thửa đất 261, tờ bản đồ số 21 của bà Đỗ Thị H. Ranh giới giữa đất của bà và đất của bà H trước đây có hàng rào cây xanh và bụi tre. Đến năm 2018, bà T dọn hàng cây, sau đó bà có trồng một số trụ bê tông. Do tự cắm trụ nên một số trụ bê tông ở đầu phía Đông theo đường hàng rào cây xanh cũ, còn phần phía Tây không theo đường ranh cũ. Tổng số trụ bà đã dựng năm 2018 là 8 trụ, mục đích cắm để giăng lưới rào gà. Sau đó mấy anh chị trong gia đình đều làm ăn xa và ở nơi khác. Hiện tại ranh cũ chỉ còn bụi tre và vài cây xanh gần bụi tre.

Năm 2022 bà T muốn làm tường rào nên có nhờ Văn phòng đăng ký đất đai đo lại để cắm lại mốc giới cho chính xác, khi đó, cả ba anh em bà đã đo tổng thể thửa đất cha để lại làm hàng rào thì phát hiện bà H đã trồng một số cây cau lấn sang đất của bà T. Theo kết quả xem xét thì bà H đã lấn sang đất của bà là 8m², trên phần đất tranh chấp có một số cây cau. Nay bà yêu cầu bà H phải chặt cau và trả lại phần đất 8 m² đã lấn qua.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn Đỗ Thị H trình bày:

Thửa đất số 261 tờ bản đồ 21 xã P là tài sản do cha mẹ bà đã để lại cho bà. Trước đây giữa hai thửa đất của bà và bà T có hàng rào cây xanh, nay bà T đã trồng trụ bê tông, đầu ranh phía Tây là bụi tre. Bà H trồng hàng cau là trên đất của bà H không phải là đất của bà T. Phần đất nằm ngoài hàng trụ bà T đã trồng là đất của bà H. Do đó việc bà T cho rằng bà đã lấn đất là không đúng, bà không đồng ý yêu cầu của bà T.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị H1 trình bày:

Bà thống nhất với lời trình bày của bà Huỳnh Thị T, bà cũng được cha là ông Huỳnh K cho thửa đất 1351 tờ bản đồ 21 xã P, còn bà T sử dụng thửa 1350, trước đây giữa vườn cha mẹ với vườn của bà Đỗ Thị H có hàng rào cây xanh, hiện tại còn vài cây sống ở gần bụi tre hàng rào. Bà yêu cầu bà H yêu cầu đốn hạ cây cau, trả lại phần lấn đã lấn chiếm cho bà T.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự:

Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa. Nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 166, 169, 174, 175 và 176 Bộ luật dân sự năm 2015, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Đỗ Thị H phải chặt cây, trả lại 8 m² đất đã lấn chiếm cho bà Huỳnh Thị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị T khởi kiện tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất với bị đơn bà Đỗ Thị H tại thửa đất ở thôn H, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi nên căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

[2] Về tố tụng: Bị đơn bà Đỗ Thị H đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà H.

[3] Về nội dung:

Về nguồn gốc đất:

Thửa đất số 1350, tờ bản đồ số 21 xã P nguyên trước đây là một phần phía Bắc của thửa đất số 267, tờ bản đồ số 21 xã P của ông Huỳnh K, bà Nguyễn Thị T3. Năm 2018 ông K, bà T3 đã tách thành 3 thửa 1350, 1351, 1532 cùng tờ bản đồ số 21 xã P, sau đó tặng cho con là bà Huỳnh Thị T thửa đất số 1350, bà T đã được đăng ký sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó bà T là chủ sử dụng hợp pháp thửa đất số 1350.

Thửa đất số 261 tờ bản đồ số 21 xã P nguyên trước đây là của bà Thới Thị T4. Năm 2017 bà T4 đã tặng cho bà Đỗ Thị H. Do đó bà H là chủ sử dụng hợp pháp thửa đất số 1350.

Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc đòi lại phần đất bị đơn đã lấn chiếm, Hội đồng xét xử xét thấy:

Vị trí hai thửa đất mà nguyên đơn bà Huỳnh Thị T và bị đơn bà Đỗ Thị H đang sử dụng: Thửa đất số 1350 và thửa đất số 261 liền kề nhau, thửa đất số 261 ở phía Bắc, thửa đất số 1350 ở phía Nam. Phần tranh chấp ở ranh giới liền kề của hai thửa đất.

Theo nguyên đơn bà T, trước đây giữa hai thửa đất 1350 và 261 có hàng rào cây xanh, ở phía Tây theo ranh là bụi tre, tuy nhiên sau đó bà đã chặt bỏ hàng cây, hiện chỉ còn vài cây gần bụi tre, bà có trồng một số trụ bê tông nhưng bà tự cắm để giăng lưới gà, các trụ này không nằm trên ranh cây xanh bà phát dọn, còn phía bà H thì trồng cây cau sát với ranh và lấn qua đất của bà khoảng 8 m².

Về phía bị đơn bà H khai trước đây ranh giới giữa hai thửa 1350 và 216 có hàng rào cây xanh, sau này bên gia đình bà T đã nhổ bỏ và đã trồng lại trụ bê tông. Do đó tính từ trụ bê tông kéo ra phía Bắc là đất của bà.

Tuy nhiên từ trước đến nay bà H và bà T chưa có có thỏa thuận nào về việc xác định vật làm ranh giới giữa hai vườn, việc bà H cho rằng bà T đã phát cây và đã trồng trụ trên ranh giới nhưng phía bà T không thừa nhận nên không có cơ sở xác định các trụ bê tông bà T đã chôn là ranh giới. Do đó ranh giới giữa thửa đất số 261 và thửa đất số 1350 được xác lập theo ranh giới được cơ quan nhà nước đã cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hai bên.

Qua xem xét thẩm định tại chỗ thì phần diện tích của hai thửa đất đều giảm, phần tranh chấp tại ranh giới của hai thửa đất là 8 m², trên phần đất tranh chấp có các cây cau của bà H. Qua làm việc với UBND thị xã Đ, xác định phần diện tích 8 m² đang tranh chấp thuộc về thửa đất số 1350 của bà T. Theo quy định tại Điều 175, 176 Bộ luật dân sự thì chủ sở hữu bất động sản chỉ được trồng cây trên phần đất thuộc quyền sử dụng của mình, nếu rễ cây, cành cây vượt qua ranh giới thì phải xén rễ, cắt, tỉa cành phần vượt quá. Bà H đã trồng cây trên phần đất của bà T là ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của bà T. Do đó bà T buộc bà H phải chặt các cây cau trả lại phần đất 8 m² bà H đã lấn chiếm là có cở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

(có sơ đồ bản vẽ kèm theo)

Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc là 11.500.000 đồng, nguyên đơn bà Huỳnh Thị T đã nộp tạm ứng, đã chi phí xong, bị đơn bà Đỗ Thị H không được chấp nhận yêu cầu nên phải chịu chi phí này, bà H phải hoàn trả cho nguyên đơn chi phí này.

[4] Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Đỗ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[5] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với một phần nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Khoản 9 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm c Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 166, 174, 175 và Điều 176 Bộ luật dân sự 2015;

- Căn cứ Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q,

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc đòi bị đơn bà Đỗ Thị H phải trả lại 8 m² đất đã lấn chiếm. Buộc bị đơn bà Đỗ Thị H phải tháo dỡ cây cối trên đất để trả lại 8 m² đất đã lấn chiếm, tại các điểm mốc (11,23, 24,25,26,27,28,17a, 29,11), vị trí:

Phía Bắc giáp thửa đất số 261, tờ bản đồ số 21 xã P, thị xã Đ

Phía Nam giáp phần đất còn lại của thửa đất số 1350, tờ bản đồ số 21 xã P, thị xã Đ

(có sơ đồ bản vẽ kèm theo)

Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc là 11.500.000 đồng (mười một triệu năm trăm nghìn đồng), nguyên đơn bà Huỳnh Thị T đã nộp tạm ứng, đã chi phí xong, bị đơn Đỗ Thị H không được chấp nhận yêu cầu nên phải chịu chi phí này, bà H phải hoàn trả cho nguyên đơn 11.500.000 đồng chi phí này.

Về án phí: Bà Đỗ Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho bà Huỳnh Thị T 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005553 ngày 30 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND thị xã;
  • - THADS thị xã;
  • - TAND tỉnh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đoàn Thị Hồng Mỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/DS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI về tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất, buộc đốn hạ cây trên đất

  • Số bản án: 40/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất, buộc đốn hạ cây trên đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận của bà t, buộc bà Đ phải tháo dỡ cây trả lại đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger