Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HÓA


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 40/2024/DS-ST

Ngày: 11/9/2024

V/v: "Tranh chấp phường hụi"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Nguyễn Đình Vụ

2. Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Tú - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Đại diện VKSND TP. tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thu L - Kiểm sát viên

Ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 152/2024/TLST - KDTM ngày 06 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp phường hụi” theo “Quyết định đưa vụ án ra xét xử" số 233A/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 8 năm 2024; “Quyết định hoãn phiên toà” số 126A/2024/QÐST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1988;

Nơi cư trú: Phố V, P. Q, TP., tỉnh Thanh Hóa.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Trịnh Thị T, sn 1990

Nơi cư trú: SN13/177 N, phường Q, TP., tỉnh Thanh Hóa.

- Bị đơn: Bà Lê Thị T1, sinh năm: 1969;

Nơi cư trú: Phố G, phường Q, TP., tỉnh Thanh Hóa.

(Tại phiên tòa có mặt bà Trịnh Thị T vắng mặt chị Nguyễn Thị V và bà Lê Thị T1)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Nguyễn Thị V trình bày:

Tháng 01/2021 chị V tham gia chơi phường hụi với bà Lê Thị T1, P có 23 chân (suất) do bà T1 làm chủ phường; Hình thức chơi: Mỗi người chơi đóng 2.000.000đ/tháng, ai lấy tiền trước thì các tháng sau phải đóng 2.400.000đ/tháng/ suất (Từ tháng đầu tiên tham gia đến tháng người chơi nhận tiền (lấy hụi) thì người chơi đóng 2.000.000đ/tháng/suất hụi; Các tháng tiếp theo (sau khi người chơi lấy hụi) đến hết dây hụi thì người chơi đóng 2.400.000đ/tháng cho suất hụi mình đã lấy). Các thành viên cùng chơi trong phường hụi gặp bà T1 để xếp thứ tự lấy hụi của mình; Bà T1 là chủ phường hụi, có trách nhiệm thu tiền của tất cả 23 suất chơi và giao lại cho từng người khi họ đến lượt lấy hụi theo thứ tự bà T1 đã xếp. Người nào lấy hụi thì trả cho bà T1 400.000đ.

Chị V tham gia chơi 3 suất và được xếp lấy hụi tháng 01/2022, tháng 9/2022, tháng 10/2022. Hàng tháng chị V đóng cho bà T1 6.000.000đ. Tháng 01/2022 chị V lấy 1 suất hụi, bà T1 đưa cho chị V số tiền 32 triệu, còn nợ lại 16 triệu để trừ dần vào tiền đóng hụi các tháng tiếp theo. Chị V đóng hụi đầy đủ đến hết tháng 7/2022. Tháng 8/2022 biết bà T1 không trả được tiền hụi cho người chơi nên chị V không đóng tiền hụi nữa. Đến kỳ chị V được lấy hụi (tháng 9, 10/2022) bà T1 không đưa tiền hụi cho chị V.

Chị V xác định, từ tháng 01/2021 đến hết tháng 07/2022 chị V đã đóng 2 suất phường hụi cho bà T1, mỗi suất là 2.000.000đ. Tổng tiền đã đóng là 19 tháng x 2.000.000đ/suất = 38.000.000₫ x 2 suất = 76.000.000₫ (Còn 01 suất lấy tháng 01/2022 chị và bà T1 đã thanh toán xong). Chị V đã nhiều lần yêu cầu bà T1 trả cho chị số tiền hụi đã đóng nhưng bà T1 không trả.

Vì vậy, chị V đã cùng một số người chơi trong phường hụi làm đơn báo cáo UBND phường và Công an phường đề nghị giải quyết. Ngày 21/7/2023 UBND phường Q đã triệu tập bà T1 và những người bà T1 còn nợ tiền hụi đến để giải quyết. (Do công việc gia đình nên chị V vắng mặt). Tại buổi làm việc này bà T1 hứa ngày 28/02/2024 sẽ trả nợ nhưng đến hẹn vẫn không trả. Do đó ngày 29/02/2024 Công an phường Q yêu cầu bà T1 và những người đòi nợ tiền hụi đến để giải quyết.

Tại buổi làm việc ngày 29/02/2024 do C2, bà V cùng những người chơi hụi mà bà T1 còn nợ và những người cho bà T2 vay tiền được trình bày sự việc, nỏi rõ số tiền mà bà T1 còn nợ mình và yêu cầu của mình đối với bà T1; Bà T1 cũng được trình bày ý kiến, bà hứa sẽ bán nhà đất để trả nợ cho những người chơi. Công an phường đã lập biên bản ghi nhận ý kiến của những người tham gia buổi làm việc, ghi cụ thể số nợ của từng người mà bà T1 phải trả, trong đó số nợ của chị V là 76.000.000₫.

Tuy nhiên đến nay bà T1 vẫn chưa trả số nợ trên. Do đó chị V khởi kiện yêu cầu bà T1 phải trả toàn bộ số tiền gốc chị V đã đóng phường hụi cho bà T1 là 76.000.000₫ (Bảy mươi sáu triệu đồng) và tiền lãi tính từ ngày 29/02/2024 đến ngày xét xử.

Về phía bị đơn Lê Thị T1: Bà T1 không đồng ý với ý kiến trình bày trên của chị Nguyễn Thị. Bà T1 công nhận bà có làm chủ phường hụi nhưng chị Nguyễn Thị V không tham gia phường hụi với bà. Bà không thu tiền phường hụi của chị V nên bà không thừa nhận số nợ chị V nói và không đồng ý trả nợ cho chị V. Việc nhận tiền đóng phường hụi của những người chơi bà có lập sổ sách thu tiền. Nếu chị V có giấy tờ, sổ sách có ký nhận của bà thì bà đồng ý trả tiền cho chị V. Bà T1 công nhận trong buổi làm việc ngày 29/02/2024 tại Công an phường Q bà đã ký biên bản nhận còn nợ tiền phường hụi của một số người, trong đó nợ chị V là 76.000.000đ. Song hôm ký biên bản tại Công an phường do bà không đọc kỹ biên bản nên đã ký nhận cả số nợ của chị V là 76.000.000đ còn thực tế bà không thu tiền hụi của chị V. Nay bà khẳng định bà không nợ chị V số tiền phường hụi 76.000.000đ nên không đồng ý trả nợ cho chị V số tiền trên. Nếu chị V có chứng cứ chứng minh thì bà trả nợ cho chị V.

Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của những người làm chứng gồm: Bà Lương Thị M, bà Phạm Thị T3, bà Phạm Thị C, bà Nguyễn Thị C1, bà Lê Thị L1 (là những người cùng tham gia chơi phường hụi và cho bà T1 vay tiền). Những người làm chứng đều có lời khai thống nhất: Chị V có tham gia chơi phường hụi với bà T1, trong buổi làm việc tại Công an phường Q bà T1 đã nhận có nợ chị V số tiền hụi là 76.000.000₫.

Trong buổi đối chất và phiên hòa giải tại Tòa án, chị V và bà T1 vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày trên.

Tại phiên tòa ngày 30/8/2024 bà T1 vắng mặt, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, HĐXX quyết định hoãn phiên tòa và ấn định mở lại phiên tòa vào 13 giờ 30 phút ngày 11/9/2024.

Tại phiên tòa hôm nay, bà T1 vắng mặt lần thứ hai; Người đại diện theo ủy quyền của chị V giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị HĐXX buộc bà Lê Thị T1 phải trả cho chị Nguyễn Thị V toàn bộ số tiền phường hụi mà bà T1 còn nợ chị V là 76.000.000₫ và tiền lãi tính từ ngày 29/2/2024 đến ngày xét xử là 76.000.000₫ x 10%/năm (0,02739726%/ngày) x 195 ngày = 4.060.000đ, tổng gốc và lãi là 80.060.000₫ (T4 mươi triệu không trăm sáu mươi ngàn đồng).

Ý kiến của đại diện VKS: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký và HĐXX, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn kể từ khi Toà án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án đã tuân thủ đúng quy định; Bà Lê Thị T1 chấp hành không đầy đủ quy định. Tại phiên tòa bà T1 vắng mặt lần thứ 2 không có lý do, đề nghị HĐXX căn cứ Điều 227 - BLTTDS để xét xử vắng mặt bà T1.

Về nội dung vụ án: Đại diện VKS đề nghị HĐXX căn cứ các điều 280; 357; 466; 471; 468 - BLDS chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà T1 phải trả cho chị V số tiền là 76.000.000₫ và tiền lãi tính từ ngày 29/2/2024 đến ngày xét xử là 4.060.000đ; Về án phí: Bà T1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được kiểm tra, xem xét tại phiên toà; Kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Ý kiến của người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền: Bà Nguyễn Thị V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp phường hụi với bà Lê Thị T1; Bà T1 cư trú tại: Phường Q, TP., tỉnh Thanh Hóa, do đó TAND TP. thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 - Bộ luật TTDS.

[1.2] Về việc vắng mặt đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tổng đạt hợp lệ đầy đủ các văn bản tố tụng cho bà T1 theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay bà Lê Thị T1 vắng mặt lần thứ 2 không có lý do, HĐXX căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 - BLTTDS để xét xử vắng mặt bà T1.

[2] Về thời hiệu khởi kiện: Đương sự không có yêu cầu xem xét về thời hiệu

[3] Về nội dung tranh chấp:

[3.1] Chị Nguyễn Thị V nại rằng tháng 01/2022 chị đã tham gia 03 chân (suất) phường hụi do bà Lê Thị T1 làm chủ. Quá trình tham gia chị đã được nhận 01 suất tiền hụi vào tháng 01/2022 và hai bên đã thanh toán xong. Còn 02 suất hụi bà T1 chưa trả cho chị. Tổng số tiền chị đã đóng cho 2 suất hụi mà bà T1 chưa trả là: 19 tháng x 2.000.000đ/tháng x 2 suất = 76.000.000đ. Chị yêu cầu Tòa án buộc bà Lê Thị T1 trả cho chị toàn bộ số tiền phường hụi chị đã đóng cho bà T1 là 76.000.000đ. Bà T1 không chấp nhận yêu cầu trên của chị V, bà cho rằng bà không thu tiền phường hụi của chị V, nếu chị V có tài liệu chứng cứ chứng minh bà thu tiền của chị thì bà đồng ý trả. Đối với biên bản làm việc ngày 29/02/2024 do Công an phường Q lập bà T1 cho rằng bà không đọc kỹ nên đã ký biên bản nhận nợ chị V 76.000.000₫.

HĐXX xét: Mặc dù quá trình tham gia đóng phường hụi cho bà T1 chị V và bà T1 không lập văn bản, không ký nhận sổ sách (do tin tưởng vì có quan hệ họ hàng). Song, khi đến lượt chị V được nhận tiền hụi bà T1 không thanh toán cho chị V nên chị V, bà M, bà T3, bà L1, bà C, bà C1 (là những người bà T1 còn nợ tiền hụi và tiền vay) đã cùng làm đơn báo cáo UBND và Công an phường Q. Ngày 29/02/2022 Công an phường Q đã tiến hành giải quyết vụ việc; Tại buổi làm việc chị V và các chủ nợ được phát biểu trình bày ý kiến nêu rõ số tiền bà T1 còn nợ mình và yêu cầu bà T1 trả nợ, bà T1 tham gia buổi làm việc, không có ý kiến phản đối hay thắc mắc gì, bà T1 hứa sẽ bán đất để trả nợ; Sau khi lập biên bản bà T1 được đọc lại biên bản và tự nguyện ký.

Nội dung biên bản ghi rõ “Hiện nay bà T1 còn nợ các hộ dân số tiền như sau: Nợ bà Nguyễn Thị V với số tiền 76.000.000đ, là toàn bộ số tiền đóng phường”. Biên bản có chữ ký của chị V bà T1, bà M, bà T3, bà L1, bà C, bà C1; Có chữ ký của bà Lê Thị H - Cảnh sát khu vực và ông Hoàng Xuân T5 - Trung tá - Trưởng công an phường Q là những người trực tiếp giải quyết và lập biên bản làm việc.

Từ sau buổi làm việc cho đến thời điểm chị V khởi kiện, bà T1 hoàn toàn không có ý kiến thắc mắc gì về nội dung buổi làm việc và biên bản đã lập với nội dung bà nhận nợ chị V 76.000.000đ tiền chị V đã đóng phường hụi cho bà;

Trong biên bản lấy lời khai và biên bản đối chất tại Tòa án ngày 04/6/2024, bà T1 công nhận chữ ký chữ viết họ tên trong biên bản làm việc tại Công an phường Q là do bà tự nguyện ký sau khi đã đọc biên bản.

Trong biên bản xác minh tại Công an phường Q, bà Lê Thị H - Cảnh sát khu vực và ông Hoàng Xuân T5 - Trưởng công an phường Q là người trực tiếp giải quyết và lập biên bản làm việc ngày 29/02/2022 khẳng định: Tại buổi làm việc bà T1 sức khỏe bình thường, hoàn toàn minh mẫn, tỉnh táo, bà T1 tự đọc lại biên bản và tự nguyện ký biên bản không bị ai ép buộc.

Vì vậy việc bà T1 cho rằng bà không đọc kỹ biên bản nên ký nhận số nợ của chị V là không có cơ sở để chấp nhận.

Lời khai của chị V phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; Việc chị V yêu cầu bà T1 trả cho chị số tiền chị đã đóng hụi 76.000.000₫ là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 280; 471 - BLDS nên HĐXX chấp nhận.

[3.2] Đối với việc chị V yêu cầu bà T1 phải trả cho chị số tiền lãi từ ngày 29/2/2024 đến ngày xét xử là 76.000.000₫ x 10%/năm (0,02739726%/ngày) x 195 ngày = 4.060.000₫ là phù hợp quy định tại Điều 357; khoản 4 Điều 466 - BLDS nên được chấp nhận.

[4] Về án phí: Do yêu cầu của chị V được Tòa án chấp nhận vì vậy bà T1 phải chịu án phí dân sự có giá ngạch theo quy định tại Điều 147 - BLTTDS; Điều 24; Điều 26 NQ 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.

Vì các lễ trên

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Khoản khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 2 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 266; Điều 271; Điều 273 - Bộ luật Tố tụng dân sự.

Điều 280; Điều 357; khoản 1, 4 Điều 466; Điều 471; khoản 2 Điều 468 - Bộ luật dân sự

Điều 24; khoản 2 Điều 26 - NQ 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án

Xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị V, buộc bà Lê Thị T1 phải trả cho chị Nguyễn Thị V số tiền đã đóng phường hụi là 76.000.000đ và tiền lãi phát sinh 4.060.000đ, tổng là 80.060.000₫ (tám mươi triệu không trăm sáu mươi ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự.

Về án phí: Bà Lê Thị T1 phải chịu 4.003.000đ án phí dân sự có giá ngạch. Chị Nguyễn Thị V không phải chịu án phí và được nhận lại số tiền 1.920.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001475 ngày 04/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bà Lê Thị T1 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. Thanh Hóa;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS TP. Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Nguyễn Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/DS-ST ngày 11/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về tranh chấp phường hụi

  • Số bản án: 40/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp phường hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị V - Lê Thị t (Tranh chấp hụi họ)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger