|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH THÁI BÌNH
|
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 40/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 09 - 9 - 2024
V/v: Chị Nguyễn Thị Thu L xin ly
hôn anh Nguyễn Văn T
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Nghĩa.
Bà Vũ Thị Thanh Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Lê Huy Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 78/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 29/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu L, sinh năm 1996; nơi thường trú: Thôn TĐ, xã TQ, huyện V, tỉnh Thái Bình; nơi ở hiện tại: Thôn P, xã TT, huyện V, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1992; nơi thường trú: Thôn TĐ, xã TQ, huyện V, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 03 tháng 6 năm 2024 và trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu L trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn T tự nguyện tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 25 tháng 01 năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã TQ, huyện V, tỉnh Thái Bình. Sau kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc đến tháng 7 năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi chửi nhau, anh T sống thiếu trách nhiệm vợ con, không cùng chị lo toan, gánh vác kinh tế gia đình. Cuối năm 2022, chị đưa con về nhà bố mẹ đẻ chị ở xã TT, huyện V ở, vợ chồng sống ly thân, chấm dứt mọi quan hệ từ đó đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị và anh T đều theo đạo thiên chúa giáo, giáo lý không cho phép ly hôn nhưng mâu thuẫn giữa anh chị đã thực sự căng thẳng, không thể hàn gắn nên chị cương quyết xin ly hôn anh T, không chấp nhận đoàn tụ.
Chị và anh Nguyễn Văn T có một con chung là Nguyễn Thanh Thảo N, sinh ngày 30 tháng 12 năm 2016, hiện ở cùng chị. Ly hôn, chị đề nghị được nuôi con N và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con N cùng chị. Hiện chị làm nghề dịch vụ làm đẹp, thu nhập bình quân được 12 triệu đồng/01 tháng. Anh T hiện làm nghề gì, thu nhập bao nhiêu, chị không biết.
Chị và anh Nguyễn Văn T không có tài sản chung, không có nghĩa vụ về tài sản, chị không yêu cầu Toà án giải quyết về chia tài sản chung.
Trước và sau khi nộp đơn ly hôn, chị đã liên lạc với anh T nhưng anh T không đến Tòa án làm việc, chị đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo trình tự vắng mặt anh T. Đối với bố mẹ đẻ chị do đều theo đạo thiên chúa giáo nên sẽ không can thiệp vào việc ly hôn giữa anh chị, do vậy, chị đề nghị Tòa án không ghi ý kiến của bố mẹ đẻ chị về tình trạng hôn nhân của anh chị.
* Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn T:
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác cho anh Nguyễn Văn T nhưng anh T không đến Tòa án làm việc, không có lời khai tại Tòa án và không giao nộp tài liệu, chứng cứ Tòa án đã yêu cầu.
* Tại đơn đề ngày 23 tháng 5 năm 2024 có xác nhận của chị Nguyễn Thị Thu L, cháu Nguyễn Thanh Thảo N trình bày:
Bố đẻ cháu là Nguyễn Văn T. Mẹ đẻ cháu là Nguyễn Thị Thu L. Hiện cháu đang ở cùng mẹ. Khi bố mẹ cháu ly hôn, nguyện vọng cháu xin được ở cùng mẹ.
* Tại biên bản lấy lời khai đề ngày 17 tháng 7 năm 2024, bà Trần Thị T (mẹ đẻ anh Nguyễn Văn T) trình bày:
Anh T, chị L đăng ký kết hôn năm 2016 tại UBND xã TQ, huyện V, tỉnh Thái Bình. Sau kết hôn, anh chị sống cùng gia đình bà một thời gian thì thuê nhà trọ ở và làm ăn tự do. Về mâu thuẫn giữa anh chị như thế nào, bà không biết cụ thể nhưng từ khoảng cuối năm 2023 đến nay anh chị không ở cùng nhau. Nay chị L xin ly hôn anh T, bà không đồng ý cho anh chị ly hôn vì gia đình bà là người công giáo, không cho phép ly hôn, nếu đồng ý ly hôn là có lỗi với Chúa, chỉ khi nào chồng chết, vợ chết mới được lấy vợ, lấy chồng khác. Còn nếu chị L đã có người đàn ông khác, cố tình xin ly hôn thì anh T và gia đình bà cũng không níu kéo nữa, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Anh T, chị L có một con chung là Nguyễn Thanh Thảo N, sinh ngày 30 tháng 12 năm 2016, hiện ở cùng chị L. Nếu việc ly hôn đặt ra giải quyết, về con chung của anh chị, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
Về tài sản chung của anh T, chị L do anh chị giải quyết, bà không can thiệp. Anh chị không có nghĩa vụ chung về tài sản liên quan đến bà và gia đình bà.
Anh T hiện làm tự do, nay đây mai đó, không thường xuyên về nhà nhưng khi có việc trong gia đình vẫn liên lạc với nhau qua điện thoại. Hiện anh T ở đâu, làm công việc gì, bà không biết và cũng không hỏi. Đối với việc ly hôn của anh chị, bà biết, anh T sẽ không đến Tòa án và không trình bày ý kiến, quan điểm vì gia đình bà là người công giáo như bà đã trình bày trên. Các văn bản tố tụng Tòa án gửi cho anh T, đề nghị gửi qua đường bưu điện về địa chỉ gia đình bà, gia đình bà nhận và cam kết giao hoặc thông báo lại cho anh T. Nếu anh T vắng mặt, không đến, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo trình tự vắng mặt anh T.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự, Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định
tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, điểm b khoản 2 Điều 227, các khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, các Điều 24, 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội: Xử cho chị L được ly hôn anh T. Giao cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng Nguyễn Thanh Thảo N, sinh ngày 30 tháng 12 năm 2016. Chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên không giải quyết. Không đặt ra giải quyết về tài sản. Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1.1] Chị Nguyễn Thị Thu L khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Văn T, anh T có nơi thường trú tại xã TQ, huyện V, tỉnh Thái Bình, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình.
[1.2] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Văn T nhưng anh T không đến Tòa án, không giao nộp tài liệu, chứng cứ Tòa án đã yêu cầu. Do đó, Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục vắng mặt anh T.
[1.3] Ngày 09 tháng 8 năm 2024, chị Nguyễn Thị Thu L có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, các khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt chị L, anh T.
[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu L và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã TQ, huyện V, tỉnh Thái Bình theo Giấy chứng nhận kết hôn số 05 ngày 25 tháng 01 năm 2016, là hôn nhân hợp pháp. Sau kết hôn, anh chị đã có thời gian chung sống hạnh phúc sau mới xảy ra mâu thuẫn. Về nguyên nhân, theo chị L là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi chửi nhau, anh T không quan tâm đến vợ con, không có trách nhiệm với gia đình và anh chị đã sống ly thân từ cuối năm 2022 đến nay, mặc dù anh chị đều theo đạo thiên chúa giáo, giáo lý không cho phép ly hôn nhưng do mâu thuẫn căng thẳng, chị vẫn cương quyết xin ly hôn. Xét thấy: Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, anh T đều vắng mặt không có lý do, không trình bày ý kiến, quan điểm đối với yêu cầu ly hôn của chị L, điều đó thể hiện anh T không có thiện chí hòa giải, không mong muốn đoàn tụ, hàn gắn hạnh phúc gia đình. Về phía bà T (mẹ đẻ anh T) cũng trình bày anh chị đã không ở cùng nhau từ khoảng cuối năm 2023, vì là người công giáo nên bà không đồng ý cho anh chị ly hôn còn nếu chị L có người đàn ông khác, cố tình ly hôn, gia đình cũng không níu kéo. Như vậy, Hội đồng xét xử xác định mâu thuẫn giữa chị L, anh T là có, đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị L, xử cho chị L được ly hôn anh T.
[2.2] Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Thu L và anh Nguyễn Văn T có một con chung là Nguyễn Thanh Thảo N, sinh ngày 30 tháng 12 năm 2016. Xét thấy: Chị L có công việc, có thu nhập ổn định, đủ điều kiện nuôi con, con N hiện đang ở cùng chị L, có nguyện vọng ở cùng mẹ, con N lại là con gái, đang độ tuổi phát triển tâm sinh lý, rất cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ. Để đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống, việc học tập và đảm bảo sự phát triển mọi mặt của con trẻ, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đề nghị của chị L, xử giao cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng Nhi là phù hợp pháp luật. Về cấp dưỡng cho con chung, xét việc chị L không yêu cầu anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con N cùng chị là tự nguyện, không trái pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.3] Về chia tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Thu L trình bày chị và anh Nguyễn Văn T không có tài sản chung, không có nghĩa vụ về tài sản, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Nguyễn Văn T không có lời khai về tài sản tại Tòa án. Do vậy, về chia tài sản chung của anh chị không đặt ra giải quyết trong vụ án này, Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc dân sự khác khi đương sự có yêu cầu.
[2.4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[2.5] Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Thu L và anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 và các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, các khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thu L và anh Nguyễn Văn T.
-
Về nuôi con chung:
- Giao cho chị Nguyễn Thị Thu L trực tiếp nuôi dưỡng con Nguyễn Thanh Thảo N, sinh ngày 30 tháng 12 năm 2016. Anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị Nguyễn Thị Thu L.
- Anh Nguyễn Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng cho con được đặt ra giải quyết khi có yêu cầu.
- Về chia tài sản chung: Không đặt ra giải quyết trong vụ án này, Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc dân sự khác khi đương sự có yêu cầu.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị L đã nộp tạm ứng tại Biên lai số 0001673 đề ngày 02 tháng 7 năm 2024 tại Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Thái Bình sang án phí. Chị L đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Thu L và anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Dương |
Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH THÁI BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 40/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử cho chị Nguyễn Thị Thu L được ly hôn anh Nguyễn Văn T
