Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/DS-ST

Ngày: 30 - 8 - 2024

V/v: “Tranh chấp hụi”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Văn Lẫm

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Minh Thật

Bà Trần Thị Út

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Mỹ Phương, Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

Trong ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 256/2023/TLST-DS, ngày 29 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hụi”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2024/QĐXXST - DS, ngày 06 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 96/2024/QÐST-DS ngày 15 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thanh T, sinh năm: 1969.

    Địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.

  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N.

    Địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn T1, sinh năm: 1985.

    Địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 30/6/2023 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thanh T trình bày:

Trước đây bà là chủ hụi, bà Nguyễn Thị N có tham gia hụi do bà làm chủ. Sau khi hốt hụi thì bà N không đóng hụi chết cho bà và còn nợ bà số tiền là 72.000.000 đồng. Do bà N không có tiền xoay sở công việc nên bà N cố cho bà 02 công đất ruộng với số tiền 50.000.000 đồng. Tổng cộng tiền hụi và tiền cố đất bà N còn nợ bà là 122.000.000 đồng.

Ngày 22/10/2017 âm lịch bà N tiếp tục tham gia 01 chân hụi mùa 5.000.000 đồng do bà làm chủ, bà N đóng hụi sống được 10 lần chưa hốt bà thống nhất cho bà N được hưởng số tiền đóng 10 lần đóng là 50.000.000 đồng trừ hoa hồng 2.500.000 đồng bà còn nợ lại bà N số tiền 47.500.000 đồng.

Ngày 26/7/2018 âm lịch bà N tiếp tục tham gia 01 chân hụi mùa 5.000.000 đồng do bà làm chủ, bà N đóng hụi sống được 09 lần chưa hốt bà thống nhất cho bà N được hưởng số tiền đóng 09 lần đóng là 45.000.000 đồng trừ hoa hồng 2.500.000 đồng bà còn nợ lại bà N số tiền 42.500.000 đồng. Tổng cộng 02 chân hụi mùa bà còn nợ bà N số tiền là 90.000.000 đồng, bà N còn nợ bà số tiền hụi là 72.000.000 đồng và 50.000.000 đồng tiền cố đất tổng cộng là 122.000.000 đồng, sau khi cấn trừ thì bà N còn nợ lại bà số tiền 32.000.000 đồng. Do đó bà yêu cầu bà N trả số tiền hụi là 32.000.000 đồng.

Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị N đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên chưa có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của bà T.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 05/8/2024 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn T1 trình bày: Ông là còn của bà Nguyễn Thị N. Vào năm 2016 bà Nguyễn Thị N có cố cho bà Trần Thanh T 02 công đất ruộng với giá 50.000.000 đồng, đất cố là của bà N, số tiền cố đất 50.000.000 đồng do bà N nhận, ông không có nhận. Do ông là con của bà N ở chung nhà nên bà T yêu cầu ông ký tên vào tờ cố đất và ông có ký tên vào tờ cố đất. Hiện nay phần đất bà N cố cho bà TN đã chuộc lại nhưng bà T chưa trả lại bản gốc tờ cố đất có chữ ký của ông cho bà N. Việc chơi hụi giữa bà T với bà N ông không biết. Do bận công việc nên ông xin vắng mặt trong suốt quá trình Toà án giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị N đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, 228 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị N. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn T1 có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, 228 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt ông Trần Văn T1.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án “Tranh chấp hụi” theo Điều 26, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

[3] Nội dung vụ án: Vào năm 2015 bà Nguyễn Thị N có tham gia chơi hụi do bà Trần Thanh T làm chủ, bà N đã hốt hụi nhưng chưa đóng lại hụi chết và còn nợ bà T tiền hụi chết là 72.000.000 đồng. Năm 2016 bà N cố cho bà T 02 công đất ruộng với giá 50.000.000 đồng, số tiền hụi và cố đất bà N còn nợ bà T là 122.000.000 đồng. Năm 2017, 2018 bà N tham gia 02 chân hụi mùa 5.000.000 đồng do bà T làm chủ, bà N đóng 02 chân hụi sống tổng cộng là 19 lần, bà T cho bà N được hưởng là 95.000.000 đồng, trừ hoa hồng bà N còn hưởng số tiền 90.000.000 đồng. Sau khi cấn trừ số tiền bà N nợ bà T là 122.000.000 đồng bà T còn nợ bà N 90.000.000 đồng thì bà N còn nợ bà T là 32.000.000 đồng. Do đó bà T yêu cầu bà N trả số tiền hụi là 32.000.000 đồng.

[4] Qua thẩm vấn công khai tại phiên tòa cùng các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: Do có mối quan hệ quen biết nên năm 2015 bà Nguyễn Thị N có tham gia chơi hụi do bà T làm chủ, bà N đã hốt hụi nhưng chưa đóng hụi chết và còn nợ bà T số tiền 72.000.000 đồng. Năm 2016 bà N cố cho bà T 02 công đất ruộng với giá 50.000.000 đồng, tổng số tiền hụi, cố đất bà N còn nợ bà T là 122.000.000 đồng. Năm 2017 bà N tham gia 01 chân hụi mùa 5.000.000 đồng do bà T làm chủ bà N đóng được 10 lần với số tiền thoả thuận được hưởng là 50.000.000 đồng trừ hoa hồng 2.500.000 đồng còn lại bà N được hưởng 47.500.000 đồng, tiếp tục đến năm 2018 bà N tham gia 01 chân hụi mùa 5.000.000 đồng do bà T làm chủ, bà N đóng được 9 lần với số tiền thoả thuận được hưởng là 45.000.000 đồng trừ hoa hồng 2.500.000 đồng còn lại bà N được hưởng là 42.500.000 đồng, tổng cộng dây 02 dây hụi mùa bà N được hưởng là 90.000.000 đồng. Bà N còn nợ bà T số tiền 122.000.000 đồng bà T nợ bà N 90.000.000 đồng nên sau khi cấn trừ thì bà N còn nợ bà T số tiền 32.000.000 đồng. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình thì bà T có cung cấp biên nhận ngày 06/01/2015 thể hiện bà N có nợ bà T số tiền 72.910.000 đồng có chữ ký của bà N, Tờ cố đất lập ngày 30/6/2016 bà N có cố cho bà T 02 công đất ruộng giá 50.000.000 đồng, thời hạn cố là 02 năm có chữ ký của ông Trần Văn T1 là con bà N và có xác nhận của chính quyền địa phương. Đến ngày 20/01/2023 bà N có làm giấy nhận tiền hụi với bà T nội dung thể hiện: Bà N, ông T1 có cố cho bà T 02 công đất ruộng giá 50.000.000 đồng, bà N ông T1 nợ tiền hụi bà T là 72.000.000 đồng, tổng số tiền cố đất và tiền hụi là 122.000.000 đồng. Ngày 22/10/2017 bà N vô 01 chân hụi mùa 5.000.000 đồng đóng được 10 lần bằng 50.000.000 đồng trừ hoa hồng 2.500.000 đồng còn lại 47.500.000 đồng. Ngày 26/7/2018 bà N vô 01 chân hụi mùa 5.000.000 đồng đóng được 09 lần với số tiền 45.000.000 đồng trừ hoa hồng 2.500.000 đồng còn lại 42.500.000 đồng, tổng cộng hai chân hụi là 90.000.000 đồng, trừ ra bà N và ông T1 còn nợ bà T số tiền 32.000.000 đồng, giấy nhận tiền hụi chỉ có bà N ký ông T1 không có ký.

[5] Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị N đã được Toà án triệu tập hợp lệ để xác nhận chữ ký trong biên nhận nợ ngày 01/6/2015 số tiền nợ bà N 72.910.000 đồng có phải của bà N hay không, giấy nhận tiền hụi ngày 20/01/2023 thể hiện bà N có cố đất cho bà T số tiền 50.000.000 đồng, tổng cộng là 122.000.000 đồng, bà N có tham gia 02 chân hụi mùa đã đóng số tiền 90.000.000 đồng, sau khi cấn trừ thì bà N còn nợ bà T số tiền 32.000.000 đồng hay không nhưng bà N vắng mặt.

[6] Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự quy định “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ lời trình bày của bà T và giấy nhận tiền hụi ngày 20/01/2023 buộc bà N có nghĩa vụ trả cho bà T số tiền hụi còn nợ là 32.000.000 đồng. Tại phiên toà bà T thừa nhận bà N đã chuộc lại đất năm 2020 và trong giấy nhận tiền hụi ngày 20/01/2023 ông T1 không có ký tên và bà T không yêu cầu ông T1 trả nợ.

[7] Về án phí dân sự: Bà Nguyễn Thị N phải chịu theo quy định.

[8] Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, Điều 35, 147, 227, 228, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ: Điều 471, 357 Bộ luật dân sự năm 2015.

Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2016 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thanh T về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị N trả số tiền hụi còn nợ là 32.000.000 đồng (ba mươi hai triệu đồng).

Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà Trần Thanh T số tiền 32.000.000 đồng (ba mươi hai triệu đồng).

Kể từ ngàyTrần Thanh T có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án. Lãi suất chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468, nếu không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về án phí dân sự: Bị đơn bà Nguyễn Thị N phải chịu 1.600.000 đồng (một triệu sáu trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn bà Trần Thanh T có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 30/8/2024. Bị đơn bà Nguyễn Thị N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn T1 có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - Các đương sự;
  • - VKSND h Long Mỹ;
  • - Chi cục THADS h Long Mỹ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Lẫm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/DS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hụi

  • Số bản án: 40/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà t yêu cầu bà n trả tiền
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger