Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẬU LỘC

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/HS-ST

Ngày: 22 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nghi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Văn Doãn

Ông Pham Văn Lâm

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Khánh Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên tòa:

Bà Hà Thị Quy - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu Trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc và điểm cầu thành phần tại nhà tạm giữ Công an huyện H, xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/HSST ngày 09 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST- HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo

Bị cáo: Mai Văn T, sinh năm 2002 tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi ĐKNKTT: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn H ( đã chết), con bà Phan Thị C, sinh năm 1981, bị cáo chưa có vợ và con; tiền sự: Không; tiền án: Không.

Nhân thân: Ngày 19/5/2020 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 04 năm tù về tội “ Giết người” Theo bản án số 52/HHST ngày 19/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, đến ngày 20/01/2023 đã chấp hành xong hình phạt,

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/4/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt)

Người làm chứng: Nguyễn Xuân T1, sinh năm 2001.

Trú tại: Thôn C, xã N, huyện H, Thanh Hóa. (Vắng mặt)

Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn K - sinh năm 1990.

Trú tại: Thôn Y, xã H, huyện H, Thanh Hóa. (Vắng mặt)

Anh Đinh Văn V - sinh năm 1991

Trú tại: Thôn Y, xã H, huyện H, Thanh Hóa. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 09/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H phối hợp với Công an xã H, làm nhiệm vụ tại đoạn đường thuộc thôn Y, xã H thì phát hiện thấy Mai Văn T đang có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy để bán kiếm lời. Tại chỗ thu giữ tại túi quần trước bên phải của T đang mặc gồm: 01 (một) gói giấy thiếc một mặt trắng, một mặt vàng bên trong có chứa 02 (hai) viên nén màu xám; 01 (một) túi ni lông màu trắng kích thước khoảng 1,5 x 1,5 cm bên trong đựng chất tinh thể màu trắng và chiếc xe mô tô biển kiểm soát 29V3 - 6424.

Tiến hành khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Mai Văn T nhưng không thu giữ được tài liệu, đồ vật gì liên quan đến vụ án.

Quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Khoảng 18 giờ ngày 20/02/2024, bị cáo đi đò từ xã H, huyện H về thôn Y, xã H, huyện H. Trên đò bị cáo gặp, nói chuyện với người đàn ông khoảng 30 tuổi, cao 1m70 (không xác định được tên, địa chỉ cụ thể) và hỏi mua của người đàn ông này nửa chỉ Ketamine và hai viên ma túy loại MDMA với giá 2.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy bị cáo mang về nhà cất giấu, đến ngày 09/4/2024, bị cáo mang số ma túy trên lên quán B – A Tuấn H1, xã H để có ai hỏi thì bán nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện, bắt giữ quả tang.

Tại bản kết luận giám định số 1536/KL-KTHS ngày 15/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Chất tinh thể màu trắng của phong bì niêm gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,382 gam (không phẩy ba tám hai gam) loại Ketamine; 02 viên nén màu xám của phong bì niêm gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,812 gam (không phẩy tám một hai gam) loại MDMA.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Vật chứng của vụ án được thu giữ niêm phong gửi giám định gồm: 02 viên nén màu xám; 01 túi ni lông màu trắng kích thước khoảng 1,5 x 1,5 cm bên trong đựng chất tinh thể màu trắng được đóng gói trong phong bì có viền xanh được dán kín và đóng dấu niêm phong. Sau khi thực hiện giám định đã hoàn lại mẫu vật cho cơ quan tố tụng để bảo quản, bàn giao và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Đối với chiếc xe mô tô BKS 29 V3 -2464 đã được Cơ quan điều tra trả lại tài sản cho chủ sử hữu là anh Nguyễn Xuân T1.

Tại bản Cáo trạng số: 41/CT-VKSHL ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, truy tố bị cáo Mai Văn T, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, không thay đổi, bổ sung và giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo.

Về tội danh: Căn cứ khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Mai Văn T, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy".

Về mức hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Mai Văn T, mức án từ 30 đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09 tháng 4 năm 2024.

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định, được đựng trong phong bì niêm phong do Phòng K1 Công an tỉnh T phát hành. Đã được bàn giao, bảo quản tại kho vật chứng, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc để xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;

Bị cáo không có ý kiến, quan điểm tranh luận về tội danh và về mức hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cho các bị cáo hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để có cơ hội sớm trở về gia đình và địa phương làm ăn sinh sống trở thành công dân lương thiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật, các quyết định tố tụng được ban hành đúng thẩm quyền, trình tự tố tụng. Quá trình điều tra không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, đảm bảo tính khách quan, trong hoạt động điều tra, truy tố, bảo đảm quyền và nghĩa vụ cho những người tham gia tố tụng khi khai báo. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về chứng cứ buộc tội: Bị cáo khai nhận vào ngày 20/02/2024 trên chuyến đò qua sông từ xã H, huyện H về thôn Y xã H, huyện H, bị cáo gặp và hỏi mua ma túy tổng hợp của một người đàn ông không quen biết với giá hai triệu đồng, sau khi mua được ma túy đã mang về nhà cất giấu. Đến khoảng 13 giờ 30 phút ngày 09/4/2024, bị cáo đang dừng xe mô tô BKS 29 V3 – 6224 trước quán B, thuộc thôn Y, xã H để bán thì bị bắt quả tang. Quá trình kiểm tra tại chỗ phát hiện thư giữ: Tại túi quần trước bên phải đang mặc trên người của bị cáo có một gói giấy thiếc hai mặt màu trắng vàng, bên trong gói giấy có 02 viên nén màu xám; một túi ni lông màu trắng, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng, đồng thời tiến hành lập biên bản niêm phong vật chứng. Tại bản kết luận giám định số 1536/KL-KTHS ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: 02 viên nén màu xám, có khối lượng 0,812 gam loại MDMA; túi ni lông màu trắng bên trong đựng chất tinh thể màu trắng, có khối lượng 0,382 gam ma túy loại Ketamine. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội tang, biên bản niêm phong vật chứng và kết luận giám định số 1536/KL-KTHS ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T. Do đó có đủ căn cứ khẳng định, toàn bộ khối lượng ma túy tổng hợp được thu giữ niêm phong gửi giám định là của bị cáo Mai Văn T nhằm mục đích cất giữ để bán cho người khác, nhưng chưa kịp bán thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Mai Văn T, đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3]. Xét tính chất của vụ án: Tội phạm ma túy là hành vi nguy hiểm cho xã hội, vì ma túy nói chung có tác hại đến sức khỏe con người và có thể là nguyên nhân gây ra tội phạm, tệ nạn xã hội khác, làm mất an ninh trật tự và an toàn xã hội, gây dư luận xấu trong nhân dân và cộng đồng dân cư. Tội phạm ma túy đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy. Tính chất vụ án là nghiêm trọng nên cần phải xử lý, để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung

[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo Mai Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 của BLHS. Về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngoài ra không còn căn cứ tình tiết khác để đánh giá, xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

[5]. Về nhân thân: Bị cáo Mai Văn T bị kết án về tội giết người, thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, ngày 20/01/2023 bị cáo chấp hành xong hình phạt và nộp án phí. Tính đến ngày phạm tội này bị cáo đã được xóa án tích theo điểm b khoản 2 Điều 107 của BLHS nên được coi là người không có án tích.

[6]. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo Điều 38 BLHS, để bị cáo có thời gian, lao động, cải tạo và học tập rèn luyện bản thân, lấy đó làm bài học cảnh tỉnh để sau khi mãn hạn tù trở về gia đình, cộng đồng sinh sống, luôn hướng thiện trở thành công dân tốt cho xã hội.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, chưa có tài sản riêng có giá trị để bảo đảm điều kiện thi hành, nên không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 35 BLHS.

[8]. Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 29V3 - 6424 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Xuân T1, do không liên quan đến tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại cho chủ sở hữu nên không xem xét.

[9]. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ phong bì thư có đặc điểm mô tả đã được niêm phong, bên trong có chứa đựng mẫu vật còn lại sau giám định. Toàn bộ vật chứng được bàn giao theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc.

[9]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016 /UBTVQH -14 của Ủy ban Thường vụ Q, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

VÌ CÁC LẼ TRÊN,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và khoản 1 Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Mai Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: M (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/4/2024.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ phong bì thư có đặc điểm được dán kín niêm phong, bên trong có chứa đựng mẫu vật còn lại sau giám định. Toàn bộ vật chứng được bàn giao, bảo quản tại kho vật chứng, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc để xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Mai Văn T, phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Người có QLNVLQ;
  • - VKSND huyện Hậu Lộc;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Công an huyện Hậu Lộc;
  • - Chi cục THA DS huyện Hậu Lộc;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Nghi

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Nghi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 40/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger