Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÊ LINH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/HSST

Ngày: 23/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Định;
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Đắc Hà và bà Dương Thị Kim Lan.
  • Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thu Thủy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mê Linh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đàm Duy Thức - Kiểm sát viên.

Ngày 23/4/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:

*Họ và tên: Nguyễn Quốc T, sinh năm 1992; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn X, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1967; mẹ đẻ: Nguyễn Thị G năm 1968; vợ, con: Chưa có; tiền án: Có 02 tiền án:

  • + Ngày 14/3/2017, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (Chưa được xóa án tích).
  • + Ngày 15/01/2018, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt 03 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự (Chưa được xóa án tích).

Tiền sự: Không; theo danh chỉ bản số: 498 ngày 17/12/2023 tại Công an huyện M.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2023, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 – Công an thành phố H Có mặt tại phiên toà.

* Bị hại:

  • - Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1987; vắng mặt. Trú tại: Tổ B, thị trấn C, huyện M, thành phố Hà Nội.
  • - Bà Võ Thị B, sinh năm 1969; vắng mặt. Trú tại: Tổ C, thị trấn C, huyện M, thành phố Hà Nội.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị D năm 1981; vắng mặt. Trú tại: Thôn X, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội.

* Người làm chứng:

  • - Trần Văn P năm 1991; vắng mặt. Trú tại: Tổ D, thị trấn Q, huyện M, thành phố Hà Nội.
  • - Ông Trần Quốc B1, sinh năm 1955; vắng mặt. Trú tại: Tổ D, thị trấn Q, huyện M, thành phố Hà Nội.

* Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1963; vắng mặt. Trú tại: Tổ C, thị trấn C, huyện M, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 02/11/2022, Nguyễn Quốc T (sinh năm 1992; trú tại thôn X, xã T, huyện S, Hà Nội) sang nhà Trần Văn P (sinh năm 1991; trú tại tổ D, thị trấn Q, huyện M, Hà Nội) để chơi. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, P khiển xe Honda Wave biển kiểm soát 29Z1 - 014.51 chở T chơi. Khi đi đến đoạn đường Q thuộc tổ C, thị trấn C, huyện M thấy có nhiều gà chạy trên đường nên bảo P “Tối sang đây làm mấy con gà nhé”. P hiểu ý T tối đi trộm cắp gà nên đồng ý. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, P điện thoại cho T “Có xuống không” ý P hỏi T đi trộm gà không. T hiểu ý bảo “Sang đón rồi tính”. Sau đó, P khiển xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 29Z1 - 014.51 đến nhà T ở thôn X, xã T, huyện S, H đến nơi, P thấy T ngồi uống rượu một mình liền lên phòng của T. Đến khoảng 0 giờ 05 phút ngày 03/11/2022, T gọi P bảo đi xuống Q lấy xe mô tô biển kiểm soát 29Z1 - 014.51 điều khiển chở T theo một số bao tải đi đến địa bàn huyện M đi khi qua nhà Nguyễn Thị D (sinh năm 1981; trú tại thôn X, xã T, huyện S, H) cho P người mua gà và bảo khi trộm cắp được gà mang đến bán. T gọi điện trước sẽ có người nhận, P việc đến cân gà, việc thanh toán T lo. Sau đó, cả hai tiếp tục đi đến ngã ba giao nhau đường C (đường C) với đường Q thuộc thị trấn C P dừng lại và bảo ra cầu K (cầu T). Sau đó, T bao tải đi vào khu vực cánh đồng thuộc tổ B và tổ C, thị trấn C, huyện M tài sản. Khi T đến lều của bà Võ Thị B (sinh năm 1969; trú tại tổ C, thị trấn C, huyện M, H) sát thấy không có người trông coi, T theo bao tải đi vào trong lều trộm cắp được 07 con gà của nhà bà Nguyễn Thị B vào bao tải. Trộm cắp được gà xong T mang gà đến chỗ xe để rác đặt trên đường thuộc tổ C thị trấn C cất giấu. Đến 01 giờ 30

phút cùng ngày, T điện thoại cho P báo chỗ để gà và bảo P đến nhà Nguyễn Thị D bán, còn T lại đi đến lều gà của nhà anh Nguyễn Văn L gần đó tiếp tục trộm cắp được 11 con gà rồi cho vào bao tải mang ra khu đường bê tông giữa cánh đồng, khi mang gà để ở đường bê tông T hiện thấy anh L bắt giữ P nên T đã bỏ trốn. Đến ngày 16/12/2023, Nguyễn Quốc T Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện M. Ngày 16/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự; phục hồi điều tra bị can đối với Nguyễn Quốc T

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Nguyễn Quốc T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.

* Vật chứng thu giữ:

Quá trình bắt giữ các đối tượng và điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng, đồ vật, tài sản gồm:

  • - Thu giữ tại hiện trường: 01 bao tải màu xanh bên trong có 11 con gà trong đó 10 con gà mái, 01 con gà trống, tổng trọng lượng 22,475 kg.
  • - Tạm giữ của Trần Văn P:
    • + 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 29Z1-014.51, số máy: 2849892, số khung: 049865;
    • + 01 vỏ bao tải màu xanh đã cũ kích thước 65 x 85(cm);
    • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi; M2006C3M6, có số IMEI1: 862163656468138; IMEI2: 86216305646814; bên trong lắp sim số điện thoại: 0973.164.xxx; 0975.382.794; điện thoại đã qua sử dụng.
  • - Tạm giữ của chị Nguyễn Thị D:
    • + 07 con gà gồm 01 con gà trống và 05 con gà mái có tổng trọng lượng 11,9kg (trong đó có 01 con đã chết);
    • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7, màu vàng đồng, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng. Điện thoại có số IMEI1: 359752070645570; số IMEI2: 359753070645578. Bên trong lắp SIM1 số: 0819641789, SIM2 số: 0328591801.

Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 100/TBKL-HĐĐG ngày 03/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện M kết luận:

  • + 11 con gà thịt gồm: 01 gà trống 10 con mái (tổng trọng lượng 22,475 gam) có giá trị 2.247.500 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 105/TBKL-HĐĐG ngày 23/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện M kết luận:

  • + 07 con gà thịt gồm: 06 con mái, 01 gà trống (tổng trọng lượng 14kg) có giá trị 1.400.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 3.674.500 đồng.

Quá trình điều tra, xác định số gà là tài sản của gia đình anh Nguyễn Văn L và bà Võ Thị B Cơ quan điều tra đã trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp. Sau khi nhận lại tài sản anh L bà B yêu cầu đề nghị gì khác.

Toàn bộ số vật chứng đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Mê Linh và được xử lý tại Bản án số 52/2023/HSST ngày 23 tháng 05 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh.

Đối với Nguyễn Thị D người đã mua 07 con gà trị giá tài sản 1.400.000 đồng của T và P nên Cơ quan Công an huyện M đã ra quyết định xử phạt hành chính là có căn cứ.

Tại bản cáo trạng số: 37/CT-VKS ngày 29 tháng 3 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh đã truy tố Nguyễn Quốc T về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo điểm g, khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Áp dụng điểm g, khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T từ 24 đến 30 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn L và bà Võ Thị B đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác. Mặt khác đã được giải quyết tại Bản án số: 52/2023/HSST ngày 23 tháng 5 năm 2023 nên không xem xét.

Về vật chứng: Đã được giải quyết tại Bản án số: 52/2023/HSST ngày 23 tháng 5 năm 2023 nên không xem xét.

Ngoài ra bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo không có khiếu nại gì, đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến gì về các hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng; bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Viện kiểm sát nhân dân huyện M Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Quốc T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đầy đủ cơ sở để xác định: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 03/11/2022, Nguyễn Quốc T có hành vi trộm cắp 11 con gà của gia đình anh Nguyễn Văn L tổ B thị trấn C, huyện M 07 con gà của gia đình chị Võ Thị B tổ C thị trấn C, huyện M Tổng số tài sản chiếm đoạt trị giá là 3.647.500 đồng (Ba triệu sáu trăm bốn bảy nghìn năm trăm đồng).

Như vậy, có đầy đủ cơ sở để kết luận: Hành vi của Nguyễn Quốc T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g, khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015. Cụ thể Điều 173- BLHS quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm ;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

g) Tái phạm nguy hiểm.

[3] Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội. Bởi vậy cần thiết phải đưa ra xét xử nghiêm minh trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục nói riêng và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung trong xã hội.

[4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

  • - Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân rất xấu: Trước đó bị cáo đã 02 lần bị kết án về hành vi “trộm cắp tài sản” vào năm 2017 chưa được xóa án tích và “Mua bán trái phép chất ma túy” vào năm 2018 thuộc trường hợp tái phạm, chưa được xóa án tích nên bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm; bị cáo đã chấp hành án trong trại giam một thời gian khá dài, vừa ra tù, trở về địa phương nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân để tu chí làm ăn mà vẫn ham chơi, lười lao động và lại tiếp tục phạm tội muốn kiếm tiền bất chính nhằm mục đích tiêu xài cá nhân. Điều đó chứng tỏ bị cáo là người có ý thức kém, coi thường pháp luật. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo.
  • - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào được quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn, nhận thức được hành vi sai trái của mình và đã tự nguyện ra cơ

quan điều tra đầu thú về hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, chiếu cố giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt, điều đó thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật nhà nước. Tuy nhiên, xét thấy cần xử phạt hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành người tốt, người có ích cho gia đình và xã hội. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, cần được xem xét để có mức hình phạt phù hợp đối với bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự ngoài hình phạt chính có thể phạt bị cáo hình phạt bổ sung một khoản tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng nhưng xét thấy: Bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết tại Bản án số: 52/2023/HSST ngày 23 tháng 5 năm 2023 nên không xem xét là phù hợp.

[7] Về vật chứng: Đã được giải quyết tại Bản án số: 52/2023/HSST ngày 23 tháng 5 năm 2023 nên không xem xét là phù hợp.

[8] Vấn đề khác:

  • - Đối với Nguyễn Thị D người đã mua 07 con gà trị giá tài sản 1.400.000 đồng của T và P nên Cơ quan Công an huyện M đã ra quyết định xử phạt hành chính nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.
  • - Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng: Điểm g, khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
  3. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc T 25 (Hai mươi lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2023.

  4. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
  5. Về vật chứng vụ án: Không xem xét.
  6. Về án phí: Áp dụng: Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án".
  7. Bị cáo Nguyễn Quốc T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  8. Về quyền kháng cáo: Áp dụng: Điều 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần liên quan bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Đ

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Định

VIỆN KSND THÀNH PHỐ HÀ NỘI

VIỆN KSND HUYỆN MÊ LINH

Số: 01/CT-VKS

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Mê Linh, ngày 24 tháng 12 năm 2020

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HSST ngày 23/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự: trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 40/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo T trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger