TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2024/HS-ST
Ngày: 14-6-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Ngọc Thanh Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Phục
Ông Phan Công Điện
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Công Trận – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Bảo Quốc - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2024/TLST- HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HS ngày 22/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2024/HSST – QĐ ngày 14/5/2024 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Lê Vũ Nhựt L, T gọi khác: không, Giới tính: Nam; Sinh ngày 06/9/2005 tại huyện P, tỉnh Hậu Giang;Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang; Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: làm thuê; chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): không; Trình độ học vấn: 06/12; Cha: không có;Mẹ: Lê Ngọc A, sinh năm: 1988 (sống); Anh chị em ruột: 03 người, lớn nhất là bị can, nhỏ nhất sinh năm 2014;Vợ: bị cáo chưa có vợ;Con: không; Tiền án: không; Tiền sự: 01.
Ngày 06/6/2022 bị Công an huyện P ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích với số tiền 3.250.000 đồng, bị can chưa thực hiện việc nộp phạt.
- Hiện bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-Người bào chữa cho bị cáo: Ông Ngô Nhật L1- Trợ giúp viên pháp lý hạng III của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H. Có mặt.
- Bị hại: Lý Hồng T1, sinh ngày 02/11/2009. Có đơn xin xét xử vắng mặt
Trú tại: ấp H, thị trấn K, huyện P, tỉnh Hậu Giang. - Đại diện hợp pháp của bị hại: ông Lý Cẩm S, sinh năm 1981 và bà Phạm Thị L2, sinh năm 1984.
Trú tại ấp H, thị trấn K, huyện P, tỉnh Hậu Giang. -Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Đặng Thị Cẩm N giúp viên pháp lý hạng III của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H.
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
- Lê Ngọc A, sinh năm 1988, Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
- Nguyễn Thị N1, sinh năm 1964; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
- Ông Trần Vũ P- Phó bí thư Đoàn thị trấn K Trú tại: ấp H, thị trấn K, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng năm 2021, bị cáo Lê Vũ Nhựt L, sinh ngày: 06/9/2005, nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang quen biết với Lý Hồng T1, sinh ngày: 02/11/2009, nơi thường trú: ấp H, thị trấn K, huyện P, tỉnh Hậu Giang, sau đó cả hai nảy sinh tình cảm yêu đương nam nữ với nhau. Trong khoảng thời thời gian từ khoảng tháng 8/2023 đến ngày 02/11/2023, bị can L nhiều lần thực hiện hành vi giao cấu với T1, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào khoảng đầu tháng 8/2023, L và T1 đi chơi với nhau, sau đó L chở T1 đến nhà trọ T3 tại ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang (nhà trọ do ông Lý Sơn T2, sinh ngày: 01/01/1978, nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang làm chủ) để thuê phòng trọ, tại đây, L thực hiện hành vi giao cấu với T1 01 lần.
Lần thứ hai: Vào khoảng giữa tháng 8/2023, T1 bỏ nhà đi đến nhà ngoại của L là bà Nguyễn Thị N1, SN: 1964, nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang sinh sống cùng với L. Đến ngày 06/9/2023, L có tổ chức tiệc sinh nhật của mình tại nhà ngoại của L, sau tiệc sinh nhật, L thực hiện hành vi giao cấu với T1 01 lần.
Lần thứ ba: Vào khoảng tháng 10/2023, cũng tại nhà ngoại của L là bà Nguyễn Thị N1; L tiếp tục thực hiện hành vi giao cấu với T1 01 lần.
Lần thứ tư: Vào ngày 02/11/2023, L tổ chức tiệc sinh nhật cho T1 tại nhà của bà Nguyễn Thị N1. Sau khi xong tiệc sinh nhật, L thực hiện hành vi giao cấu với T1 01 lần.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra còn phát hiện ngoài việc thực hiện hành vi phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” với bị hại Lý Hồng T1 thì bị cáo L còn có hành vi “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” nhiều lần với người khác làm bị hại mang thai theo kết quả điều tra như sau:
Đến ngày 19/11/2023, do thấy T1 có biểu hiện mệt mõi, ói nên L mua que thử thai về cho T1 thử, kết quả 02 vạch. Ngày 20/11/2023, cha ruột của T1 là ông Lý Cẩm S, sinh ngày: 25/12/1981, nơi thường trú: ấp H, TT. K, huyện P, tỉnh Hậu Giang tìm gặp T1 tại nhà ngoại của L, nên tố giác L đến Công an xã T.
Căn cứ vào kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số: 40/KLTDTE-TTPY ngày 27/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh H đối với bị hại Lý Hồng T1 như sau:
* Các kết quả chính:
- Toàn thân bên ngoài không thương tích.
- Bộ phận sinh dục ngoài không tổn thương.
- Màng trinh rách cũ vị trí 05 giờ, 07 giờ.
- Siêu âm tử cung – phần phụ: 01 túi thai khoảng 06 tuần 03 ngày trong lòng tử cung.
- Test HCG: Dương tính.
* Kết luận:
- Bộ phận sinh dục ngoài không tổn thương.
- Màng trinh rách cũ vị trí 05 giờ, 07 giờ.
- Hiện tại trong lòng tử cung của Lý Hồng T1 có 01 túi thai khoảng 06 tuần.
Căn cứ vào các loại giấy tờ tùy thân của bị hại Lý Hồng T1, thời điểm L thực hiện hành vi giao cấu với T1, thời gian từ tháng 8/2023 đến ngày 02/11/2023 thì T1 đã trên 13 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi. Riêng đối với bị cáo L thì lần giao cấu thứ nhất và thứ hai là vào khoảng tháng 8/2023 thì thì thời điểm này L chưa đủ tuổi 18 tuổi. Tuy nhiên, đối với lần giao cấu thứ ba là vào khoảng tháng 10/2023 và lần cuối cùng là vào 02/11/2023 thì L đã đủ 18 tuổi.
Quá trình làm việc, bị cáo Lê Vũ Nhựt L thừa nhận từ khoảng thời gian từ tháng 8/2023 đến ngày 02/11/2023 thực hiện tổng cộng 04 lần giao cấu với T1, dẫn đến T1 mang thai.
Về phía bị hại T1, sau khi vụ việc xảy ra, gia đình bị hại đã đưa bị hại bị phá thai, vì vậy Cơ quan điều tra không trưng cầu giám định AND được. Từ đó, không có căn cứ để xác định được huyết thống túi thai đang mang của T1 và bị cáo L.
Bản cáo trạng số: 41/CT-VKS - HPH ngày 10/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp đã truy tố bị cáo Lê Vũ Nhựt L về tội “Tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh tụng: Sau khi kiểm tra đầy đủ các chứng cứ buộc tội, gỡ tội và các tình tiết khác của vụ án, bị cáo đã thừa nhận hành vi sai trái do bị cáo gây ra tương tự như nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo đã phạm tội “Tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người bị hại có đơn bãi nại nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm về tội “Tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng của vụ án: không có nên không xem xét.
Người bào chữa cho bị cáo yêu cầu HĐXX xử theo quy định của pháp luật và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa hôm nay người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có yêu cầu HĐXX xử theo quy định của pháp luật, không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Vũ Nhựt L đã khai nhận hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh tụng gì và nói lời sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như các biên bản hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, bản tường trình, biên bản bắt người bị tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp, kết luận định giá,... nên có căn cứ để kết luận, Lê Vũ Nhựt L và bị hại Lý Hồng T1 quen biết nhau, sau đó cả hai nảy sinh tình cảm với nhau nên từ tháng 10/2023 đến ngày 02/11/2023, bị cáo L đã 02 lần thực hiện hành vi giao cấu với T1 tại nhà ngoại của bị cáo là bà bà Nguyễn Thị N1, SN: 1964, nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.Thời điểm L thực hiện hành vi giao cấu với T1 thì T1 có độ tuổi khoảng 13 tuổi 11 tháng và 14 tuổi. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Vũ Nhựt L đã phạm vào tội “Tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. như Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra công an huyện P,Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nói trên.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, Mặc dù việc quan hệ tình dục là sự đồng thuận của cả hai, không bên nào ép buộc bên nào. Nhưng hành vi của bị cáo đã xâm hại đến sự phát triển bình thường về mặt tình dục đối với người chưa đủ 16 tuổi. Mục đích của bị cáo là lợi dụng sự non nớt về nhận thức của các bị hại để thỏa mãn nhu cầu tình dục của bản thân nên cần phải bị xử lý hình sự. Ngoài ra hành vi của bị cáo còn gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương. Vì vậy, cần phải có mức án nghiêm mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo thành người lương thiện có ích cho xã hội, đồng thời để răn đe kẻ khác góp phần phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã chủ động bồi thường thiệt hại cho bị hại và bị hại đã đồng ý; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị hại có đơn yêu cầu không xử lý hình sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do đó bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu trách nhiệm hình sự.
[7] Về trách nhiệm dân sự, vật chứng của vụ án: không yêu cầu
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Lê Vũ Nhựt L phạm tội “Tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
Căn cứ: khoản 2 Điều 154; điểm b, s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Lê Vũ Nhựt L 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Trách nhiệm dân sự: Đã xử lý xong nên không xem xét.
Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), nhưng do bị cáo thuộc diện cận nghèo nên được miễn án phí.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Ngọc Thanh Hà |
Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG về tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (criminal case)
- Số bản án: 40/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm tội giao cấu với người từ đụ 13 đến 16 tuôi
