Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20/8/2024.

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỷ.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thuỳ Dương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Giang– Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 36/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXX-ST ngày 15 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1995

    Nơi thường trú: Thôn F, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

    Nơi ở hiện nay: Đài Loan (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

  2. Bị đơn: Anh Phạm Ngọc T, sinh năm 1994

    Nơi thường trú: Xóm L, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Ngọc T được tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên vào năm 2013. Sau khi kết hôn, anh chị ở nhà riêng tại xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Sau khoảng một năm, anh T đi làm vắng nhà nên hai vợ chồng anh chị chuyển về sống chung với bố mẹ đẻ của chị tại thôn F, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để nhờ ông bà ngoại giúp chăm cháu. Đến cuối năm 2018, để phát triển kinh tế gia đình, chị M đi lao động tại Đài Loan. Thời gian đầu, vợ chồng thường xuyên liên lạc, chia sẻ với nhau về công việc, con cái. Đến khoảng năm 2019 chúng tôi bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Chị M cho rằng nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau về tính cách, quan điểm sống, không thống nhất được về cách chi tiêu trong gia đình. Ngoài ra do khoảng cách địa lý, anh chị không tin tưởng nhau về mặt tình cảm. Từ đó mỗi lần gọi điện nói chuyện đều xảy ra cãi vã nên anh chị ít trò chuyện với nhau, tình cảm lạnh nhạt dần. Mặc dù hai bên gia đình động viên, hòa giải nhưng không thành. Nay chị xác định tình cảm không còn, không thể tiếp tục

chung sống cùng nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phạm Ngọc Á, sinh ngày 01/10/2013. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Á. Hiện chị M đang làm việc tại nước ngoài, cháu Á đang sinh sống và học tập ổn định cùng với mẹ đẻ của chị là bà Nguyễn Thị H tại thôn F, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Chị M ủy quyền cho bà H chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M khi chị đang ở nước ngoài, chị có trách nhiệm gửi tiền về cho bà H để chăm sóc cháu Á hàng tháng. Chị M không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu cầu Tòa án giải quyết.

Hiện chị đang làm việc tại Đài Loan, do vậy chị có uỷ quyền cho chị Vũ Thị C, sinh năm 1990; Địa chỉ: Khu dân cư T, phường Đ, thành phố C, tỉnh Hải Dương thay chị nộp các tài liệu, giấy tờ và thay chị nhận những văn bản tố tụng, bản án của Toà án. Ngoài ra, chị M xin được giải quyết vắng mặt trong vụ án trên, chị giữ nguyên những ý kiến chị đã trình bày trong đơn khởi kiện, bản tự khai.

Đối với bị đơn anh Phạm Ngọc T, Toà án đã triệu tập anh T nhiều lần, nhưng anh T đều không có mặt tại Tòa án để thể hiện quan điểm đối với việc chị Nguyễn Thị M xin ly hôn với anh.

Ngày 04/7/2024, tại buổi làm việc với Công an xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xác định anh T hiện có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm L, xã T, huyện Đ. Anh T1 hiện không có mặt địa phương và có cùng hộ khẩu thường trú với ông Phạm Ngọc T2, sinh năm 1972, là bố đẻ của anh Phạm Ngọc T.

Tại Biên bản làm việc cùng ngày giữa Toà án, ông Phạm Ngọc T2 dưới sự chứng kiến của Cán bộ Công an xã T, huyện Đ, ông T2 xác định: “Anh Phạm Ngọc T hiện đang làm việc ở xã M, huyện Đ, thành phố Hà Nội, địa chỉ cụ thể của anh T, ông không rõ. Anh T1 có thi thoảng về nhà và có gọi điện về nhà. Anh T1 biết việc chị M nộp đơn xin ly hôn anh ở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên. Anh T1 và chị M kết hôn năm 2013 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, có một con chung là cháu Phạm Ngọc Á, sinh năm 01/10/2013, hiện cháu Á đang ở với bà ngoại là bà Nguyễn Thị H ở xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi kết hôn, anh T1 và chị M ở với vợ chồng ông khoảng một năm, sau đó đều đi làm ăn xa. Vợ chồng anh T1, chị M không có tài sản chung, nợ chung gì. Việc ly hôn giữa chị M và anh T1 là việc của anh chị tự quyết định, ông không có ý kiến, quan điểm gì về việc ly hôn đó”.

Do anh Phạm Ngọc T không có mặt tại địa phương, người thân có cùng hộ khẩu thường trú với anh T không nhận thay anh T các văn bản tố tụng của Tòa án. Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã tiến hành niêm yết Thông báo về việc thụ lý vụ án và Thông báo phiên họp kiểm tra vệc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và các văn bản tố tụng khác tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên và tại Nhà văn hóa xóm L, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Tuân thủ đúng các quy định của pháp luật; Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị M, chị M được ly hôn anh Phạm Ngọc T. Giao con chung là Phạm Ngọc Á, sinh ngày 01/10/2013 cho chị M chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong khi chị M đang ở Đài Loan, giao cháu Á cho bà Nguyễn Thị H là mẹ đẻ của chị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Á. Về tài sản chung, nợ chung chị M không đề nghị giải quyết, anh T không có ý kiến đối với phần tài sản chung, nợ chung nên không giải quyết. Chị M phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng:
    1. Chị Nguyễn Thị M là nguyên đơn có nơi thường trú trước khi xuất cảnh: Thôn F, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, hiện đang ở Đài Loan. Đơn khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ của chị M đều có chứng thực của Văn phòng K tại Đ, Đài Loan. Do vậy, có đủ cơ sở xác định, nội dung các văn bản của chị Nguyễn Thị M nộp gửi cho Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam là đúng ý chí, nguyện vọng của chị M. Anh Phạm Ngọc T là bị đơn thường trú tại: Xóm L, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, Điều 37 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định đây là vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
    2. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị M đang ở Đài Loan, nhưng đã gửi các văn bản trình bày quan điểm về cho Tòa án và cũng có đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn anh Phạm Ngọc T, qua xác minh tại Công an xã T, huyện Đ xác định hiện đang đăng ký thường trú tại Làng N, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình giải quyết, thông qua số điện thoại do người thân cung cấp, anh T đã biết được việc chị M xin ly hôn anh tại Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, nhưng anh không đến Tòa án. Do người thân cùng nơi đăng ký thường trú từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, nên các văn bản tố tụng này đã niêm yết theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa ngày hôm nay anh T vắng mặt lần hai không có lý do. Căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị M và anh Phạm Ngọc T.

Xét yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị M:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị M và anh Phạm Ngọc T trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
    1. Lý do xin ly hôn, theo chị M: Do vợ chồng không hợp nhau về tính cách, quan điểm sống, không thống nhất được về cách chi tiêu trong gia đình. Ngoài ra do khoảng cách địa lý, vợ chồng không tin tưởng nhau về mặt tình cảm. Từ đó mỗi lần gọi điện nói chuyện đều xảy ra cãi vã nên anh chị ít trò chuyện với nhau, tình cảm lạnh nhạt dần. Mặc dù hai bên gia đình động viên, hòa giải nhưng không thành. Chị xác định không thể tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân vì tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị được ly hôn với anh T.
    2. Phía bị đơn anh T, mặc dù không có lời khai bằng văn bản gửi về Tòa án nhưng qua xác minh nhân thân của anh T (ông Phạm Ngọc T2 là bố đẻ anh T) xác định được: Anh T1 đã được biết việc chị M xin ly hôn anh, từ ngày chị M đi nước ngoài thì anh T1 cũng đi làm ăn ở nơi khác, giữa vợ chồng anh cũng có mâu thuẫn, không thể hàn gắn được...
    3. Theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau...”. Hội đồng xét xử thấy, mục đích hôn nhân của chị Nguyễn Thị M và anh Phạm Ngọc T theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân gia đình đã không đạt được, giữa vợ chồng không còn sự quan tâm, yêu thương nhau, tự mỗi người đã tự lo cuộc sống riêng, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn, cho chị M được ly hôn với anh T là phù hợp với thực tế và quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam.
  2. Về con chung: Chị M và anh T có một con chung là Phạm Ngọc Á, sinh ngày 01/10/2013. Hiện nay cháu Á đang sinh sống và học tập ổn định cùng với mẹ đẻ của chị M là bà Nguyễn Thị H, tại thôn F, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
    1. Khi ly hôn, chị M có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Do chị đang ở nước ngoài, chị ủy quyền cho mẹ (bà H) chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Á, chị có trách nhiệm gửi tiền về cho bà H để chăm sóc cháu Á hàng tháng. Chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
    2. Anh T1 không đến Tòa án, nên không có quan điểm gì. Tuy nhiên thông quan thân nhân (bố đẻ) của anh T1, xác định cháu Á sống cùng mẹ đẻ của chị M từ ngay sau khi chị M đi nước ngoài. Do anh T1 cũng đi làm ăn xa nhà nên cũng không trực tiếp nuôi con và nhất để bà H trực tiếp nuôi cháu Á, không có ý kiến gì.
    3. Tại bản tự khai, bà H xác định: Bà là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Á từ năm 2018 đến nay. Hàng tháng chỉ có chị M là người gửi tiền về cho bà nuôi con, còn anh T1 không có đóng góp gì. Bà nhất trí tiếp tục thay chị M chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Á trong khi chị M vắng nhà.
    4. Tại bản tự khai của cháu Phạm Ngọc Á đều thể hiện cháu có nguyện vọng được ở cùng với mẹ (chị M), trong khi chị M đang làm việc ở Đài Loan, cháu có nguyện vọng được tiếp tục ở với bà ngoại (bà H) để thuận tiện trong việc đi học và cuộc sống được ổn định.
    5. Như vậy có đủ căn cứ xác định, ngay sau khi chị M đi lao động hợp tác tại Đài Loan, anh T1 không trực tiếp nuôi con chung của anh chị, mà con chung đã về sinh sống với bà H. Chị M là người trực tiếp gửi tiền về nuôi con, phía anh T1 không thường xuyên về thăm con cũng như đóng góp tiền nuôi con. Để đảm bảo điều kiện tốt nhất của trẻ và sự ổn định cho con khi cha mẹ ly hôn, Hội đồng xét xử thấy giao con chung là Phạm Ngọc Á, sinh ngày 01/10/2013 cho chị M nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế, cũng đảm bảo đúng các quy định của pháp luật tại Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam. Trong khi chị M ở Đài Loan, để thuận tiện trong việc học tập, sinh hoạt cần tiếp tục để bà Nguyễn Thị H nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Á.
    6. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu, Tòa án không xem xét.

    Anh T1 có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có thể yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung và được giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác khi các bên đương sự có yêu cầu.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị M không yêu cầu giải quyết.

    Thông qua thân nhân của anh T1 xác định anh T1, chị M không có tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết về tài sản chung, nợ chung. Các bên đương sự cũng có quyền khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác khi có đủ căn cứ và có yêu cầu.

  4. Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị M phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn) án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  6. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên là có căn cứ, phù hợp các quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 2 Điều 38, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, điểm b khoản 1 Điều 238, Điều 207, khoản 5 Điều 477 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, Điều 127 Luật hôn nhân và Gia đình;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị M đối với anh Phạm Ngọc T. Chị Nguyễn Thị M được ly hôn với anh Phạm Ngọc T.
  2. Về quyền nuôi con, cấp dưỡng nuôi con, thăm nom con và thay đổi nuôi con chung:
    • Về quyền nuôi con, cấp dưỡng nuôi con: Giao cho chị Nguyễn Thị M là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Phạm Ngọc Á, sinh ngày 01/10/2013 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác. Trong khi chị M ở Đài Loan, giao cháu Á cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.
    • Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu, Tòa án không giải quyết khi có sự thay đổi khác.
    • Về thăm nom con và thay đổi nuôi con chung: Anh T1 là người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Vì lợi ích của con, các bên đương sự đều có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn và sẽ được giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết. Các bên đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác khi có căn cứ và có đơn yêu cầu.
  4. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung quỹ nhà nước, xác định đã nộp đủ tại biên lai thu số 0000195 ngày 12/6/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị M được quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

    Anh Phạm Ngọc T được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh;
  • - Cục THADS tỉnh;
  • - UBND xã P, Đ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Nguyễn Thị Thuỷ

6

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn

  • Số bản án: 40/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: nguyễn thị m và phạm ngọc t
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger