Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIẾN XƯƠNG

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/HS-ST

Ngày: 21-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chuyên; ông Tạ Văn Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Ngân Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST-HS ngày 07/6/2024, đối với bị cáo:

Đỗ Duy H; sinh ngày 11/7/2003; giới tính: Nam; đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Sinh viên; con ông Đỗ Duy D và con bà Đỗ Thị H1; chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không. Hiện là sinh viên trường Đại học C. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/01/2024 đến ngày 10/01/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn là bảo lĩnh, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  1. Anh Phạm Ngọc S, sinh năm 2001

    Nơi cư trú: Thôn Q, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình.

  2. Anh Trần Văn P, sinh năm 2000

    Nơi cư trú: Thôn B, xã B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.

  3. Anh Nguyễn Khánh M, sinh năm 1991

    Nơi cư trú: Thôn Ô, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.

  4. Anh Phan Minh P1, sinh năm 1998

    Nơi cư trú: Số nhà A, đường D, tổ G, ấp A, xã P, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.

  5. Anh Nguyễn Minh Q, sinh năm 2008

    Nơi cư trú: Thôn A, xã Q, huyện C, thành phố Hà Nội.

  6. Anh Giáp Văn H2, sinh năm 2004

    Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

  7. Anh Đào Hữu Nhật T, sinh năm 2003

    Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại anh Nguyễn Minh Q:

Bà Đào Thị H3, sinh năm 1969

Nơi cư trú: Thôn A, xã Q, huyện C, thành phố Hà Nội.

(Đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 8/2023, bị cáo Đỗ Duy H thấy có nhiều người có nhu cầu mua tài khoản game Liên Quân Mobile đã sẵn nhiều tướng và trang phục trong game nên bị cáo H nảy sinh ý định lừa bán tài khoản Liên Quân Mobile giả để kiếm tiền. Bị cáo H sử dụng điện thoại di động S1 S9 của mình đăng nhập facebook tạo tài khoản facebook “Đỗ Huy H4” và “Hoàng D1”, mua nhóm facebook có lượng tương tác cao, có nhiều thành viên để tăng tin tưởng của mọi người rồi đổi tên nhóm này thành “Mua bán acc liên quân mobile – uy tín – chất lượng” do bị cáo làm quản trị viên. Bị cáo sử dụng hai tài khoản facebook “Đỗ Duy hoàng” và “Hoàng D1” tải hình ảnh các tài khoản game Liên Quân Mobile của người khác rồi đăng trên nhóm “Mua bán acc liên quân mobile – uy tín – chất lượng” để quảng cáo, đăng bán tài khoản game, khi có người nhắn tin liên hệ hỏi mua tài khoản game thì bị cáo nói dối những tài khoản game đăng bán là của mình, mục đích để những người mua tin tưởng và chuyển tiền mua tài khoản cho bị cáo. Đến ngày 03/01/2024, anh Phạm Ngọc S sử dụng tài khoản facebook “Quang Vinh” nhắn tin qua Mesenger cho bị cáo H4 hỏi mua tài khoản game Liên Quân Mobile thì bị cáo nhắn tin gửi 05 (năm) hình ảnh tài khoản game mà bị cáo tải trên mạng về cho anh S xem và lựa chọn. Anh S đồng ý mua một tài khoản game với giá 2.600.000 đồng. Thấy anh S chưa chuyển tiền nên bị cáo đã nhiều lần thúc giục, yêu cầu S phải chuyển tiền đặt cọc trước nếu không sẽ bán cho người khác. Đến ngày 06/01/2024, do anh S chưa đủ tiền nên thỏa thuận sẽ chuyển trước 2.100.000 đồng cho bị cáo, bị cáo sẽ chuyển thông tin tài khoản game cho anh S kiểm tra và sử dụng, số tiền còn lại sẽ chuyển khoản sau, bị cáo H4 đồng ý. Ngày 06/01/2024, do tin tưởng tài khoản game là của bị cáo nên anh S đã chuyển khoản số tiền 2.100.000 đồng (Hai triệu một trăm nghìn đồng) đến tài khoản ngân hàng M1 số 0569514866 của Đỗ Duy H, sau khi nhận được tiền bị cáo H không giao tài khoản game như thỏa thuận mà chặn liên lạc và chiếm đoạt số tiền trên để chi tiêu cá nhân hết.

Từ tháng 8/2023 đến khi bị phát hiện, cùng với thủ đoạn lừa đảo bán tài khoản game Liên Quân Mobile như trên, bị cáo Đỗ Duy H còn lửa đảo chiếm đoạt tài sản của nhiều người khác, cụ thể là:

  • Ngày 01/9/2023, bị cáo H lừa đảo chiếm đoạt của anh Trần Văn P số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng), chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng của anh P, số tài khoản 34531157 ngân hàng A.
  • Ngày 21/9/2023, bị cáo H lừa đảo chiếm đoạt của anh Nguyễn Khánh M số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng), chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng của anh M, số tài khoản 0977755927 ngân hàng M1.
  • Ngày 18/11/2023, bị cáo H lừa đảo chiếm đoạt của anh Phan Minh P1 số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), chuyển tiền từ khoản ngân hàng của anh P1, số tài khoản 0501000240130 ngân hàng V.
  • Ngày 25/11/2023, bị cáo H lừa đảo, chiếm đoạt của anh Nguyễn Minh Q số tiền 480.000 đồng (Bốn trăm tám mươi nghìn đồng), chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng của mẹ anh Q là bà Đào Thị H3, số tài khoản 19038068479019 ngân hàng T1.
  • Ngày 05/12/2023, bị cáo H lừa đảo chiếm đoạt của anh Đào Hữu Nhật T số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng của anh T, số tài khoản 2111722252 ngân hàng B.
  • Ngày 06/12/2023, bị cáo H lừa đảo chiếm đoạt của anh Giáp Văn H2 số tiền 280.000 đồng (Hai trăm tám mươi nghìn đồng), chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng của H, số tài khoản 2393677276 ngân hàng M1.

Cáo trạng số 41/CT-VKSKX ngày 16/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương truy tố bị cáo Đỗ Duy H về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên toà, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình giữ nguyên truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Duy H phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
  • Về hình phạt: Áp dụng Khoản 1 Điều 174; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 65; Điều 50 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đỗ Duy H mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Đ, huyện N, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 47, Khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Đỗ Huy H4 phải có trách nhiệm bồi thường cho: Anh Phạm Ngọc S số tiền 2.100.000 đồng; anh Trần Văn P số tiền 400.000 đồng; anh Phan Minh P1 số tiền 200.000 đồng; anh Đào Hữu Nhật T số tiền 500.000 đồng; anh Giáp Văn H2 số tiền 280.000 đồng.
    • Bị hại là anh Nguyễn Minh Q và đại diện hợp pháp là bà Đào Thị H3; anh Nguyễn Khánh M không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền đã chiếm đoạt, do đó không đặt ra giải quyết.
    • Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 630.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
  • Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy S9, kiểu máy SM-G965U, số Imei 353321092631772, bên trong lắp sim số Vinaphone, mặt sau thẻ sim có dãy số 89840200011226546602 thu giữ của bị cáo H4.
  • Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
  • Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định.

Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đã truy tố, không tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất và cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo tiếp tục học đại học.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Thái Bình và của Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến xương, tỉnh Thái Bình và của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục, đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên toà, bị cáo Đỗ Duy H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ như: Đơn trình báo của người bị hại là anh Phạm Ngọc S (Bút lục số 54); biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử: Một số phụ chi tiết kiêm báo nợ/ báo có tài khoản ngân hàng M1 số 68888886822, chủ tài khoản Phạm Ngọc S (Bút lục số 64-65); biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử: Một số phụ chi tiết kiêm báo nợ/ báo có tài khoản ngân hàng M1 số 0569514866, chủ tài khoản Đỗ Huy H4 (bút lục số 203-224); biên bản làm việc về việc kiểm tra điện thoại của bị cáo Đỗ Duy H (bút lục 118-119); các bản tự khai, biên bản ghi lời khai của người bị hại là anh Trần Văn P (bút lục số 361-363); anh Nguyễn Khánh M (Bút lục số 367-369); anh Phan Minh P1 (bút lục số 371); anh Đào Hữu Nhật T (bút lục số 381 và 384-385); anh Giáp Văn H2 (bút lục 386-388) và bà Đào Thị H3 (bút lục số 376-378). Cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, phù hợp với các chứng cứ khác về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội, loại tài sản bị cáo đã chiếm đoạt.

[3] Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 8/2023 đến tháng 12/2023, bị cáo Đỗ Duy H đã thực hiện các hành vi lừa bán các tài khoản game Liên Quân Mobile giả bằng cách đăng trên nhóm “Mua bán acc liên quân mobile uy tín – chất lượng” do bị cáo làm quản trị viên để quảng cáo, đăng bán tài khoản game để chiếm đoạt tiền của những người mua gồm anh Phạm Ngọc S, anh Trần Văn P, anh Nguyễn Khánh M, anh Phan Minh P1, anh Đào Hữu Nhật T, anh Nguyễn Minh Q và anh Giáp Văn H2. Tổng số tiền bị cáo H đã chiếm đoạt là 4.110.000 đồng. Do đó, bị cáo Đỗ Duy H đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Điều 174 Bộ luật Hình sự tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”;...5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

[4] Xét tính chất mức độ hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

[5] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo đang là sinh viên Đại học xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo tiếp tục học tập, rèn luyện trở thành công dân tốt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp. Bị cáo H là sinh viên, chưa có việc làm và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

[6.1] Đối với yêu cầu bồi thường của các bị hại là: Anh Phạm Ngọc S, anh Trần Văn P, anh Phan Minh P1, anh Đào Hữu Nhật T, anh Giáp Văn H2 yêu cầu bị cáo Đỗ Huy H4 phải có trách nhiệm bồi thường số tiền bị cáo đã chiếm đoạt. Vì vậy, áp dụng Điều 47, Khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo phải bồi thường cho: Anh Phạm Ngọc S số tiền 2.100.000 đồng; anh Trần Văn P số tiền 400.000 đồng; anh Phan Minh P1 số tiền 200.000 đồng; anh Đào Hữu Nhật T số tiền 500.000 đồng; anh Giáp Văn H2 số tiền: 280.000 đồng.

[6.2] Các bị hại là anh Nguyễn Minh Q, anh Nguyễn Khánh M và người đại diện hợp pháp của anh Q là bà Đào Thị H3 không yêu cầu bị cáo H4 phải bồi thường số tiền đã chiếm đoạt nên không đặt ra giải quyết. Tuy nhiên, số tiền bị cáo đã chiếm đoạt là 630.000 đồng do phạm tội mà có nên áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải nộp lại để sung vào ngân sách nhà nước.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy S9 đã qua sử dụng, kiểu máy SM-G965U, số Imei 353321092631772, bên trong lắp sim số Vinaphone, mặt sau thẻ sim có dãy số 89840200011226546602 thu giữ của bị cáo là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Khoản 1 Điều 174; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 65; Điều 50; điểm a, b Khoản 1 Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự; căn cứ Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Duy H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đỗ Duy H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/6/2024. Giao bị cáo Đỗ Duy H cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện N, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  3. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
  4. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
  5. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Đỗ Huy H4 phải bồi thường cho: Anh Phạm Ngọc S số tiền 2.100.000 đồng; anh Trần Văn P số tiền 400.000 đồng; anh Phan Minh P1 số tiền 200.000 đồng; anh Đào Hữu Nhật T số tiền 500.000 đồng; anh Giáp Văn H2 số tiền 280.000 đồng.
  6. Buộc bị cáo Đỗ Duy H phải nộp lại số tiền 630.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
  7. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy S9 đã qua sử dụng, kiểu máy SM-G965U, số Imei 353321092631772, bên trong lắp sim số Vinaphone, mặt sau thẻ sim có dãy số 89840200011226546602 thu giữ của bị cáo H.

    (Vật chứng nêu trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đang quản lý).

  8. Về án phí: Bị cáo Đỗ Duy H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  9. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  10. Bị cáo Đỗ Duy H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/62024. Bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Kiến Xương;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan Điều tra CA huyện Kiến Xương;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Kiến Xương;
  • - Bị cáo; bị hại; người ĐDHP của bị hại;
  • - Sở Tư pháp Thái Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Kiến Xương;
  • - UBND xã Điền Xá, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Thái

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 40/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Duy H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger