TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2024/HS-ST Ngày 20-5-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Oai
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chung
Ông Trần Luân
Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thẩm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa tham gia phiên tòa:
Ông Ngô Bảo Nhật L - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HS ngày 23/4/2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Đ; sinh năm: 1966 tại N, Khánh Hòa; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Tổ dân phố V, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Nghề nghiệp: Bảo vệ; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn K (đã chết) và bà Trương Thị N (đã chết); Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Doãn Tất T; sinh năm: 1989 tại Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Doãn Tất V (sinh năm: 1957) và bà Phí Thị T1 (sinh năm: 1958); Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
* Bị hại: Công ty Cổ phần L2
Địa chỉ: B - 206 V, phường A, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.
* Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Mạnh H – Sinh năm: 1982 (chức vụ: Giám đốc)
Nơi cư trú: 10.18 c/c 326/1 U, phường B, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty C2 – Dự án nhà máy N1.
* Người đại diện theo pháp luật: Ông C, M - H – Sinh năm: 1972 (chức vụ: Giám đốc)
* Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Tiến L1 – Sinh năm: 1982
Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: thôn B, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình.
Chỗ ở hiện nay: Tổ I Đ, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
* Người làm chứng:
- Ông Lê Quang V1 – sinh năm 1980; có mặt.
- Ông Nguyễn Thế D – sinh năm 1964; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 21/8/2023, tại Công ty N2 thuộc thôn N, xã N, thị xã N, Nguyễn Đờn 1 bảo vệ Công ty N3 ý định trộm cắp tài sản đã rủ Doãn Tất T cắt trộm cáp điện mang ra ngoài bán lấy tiền thì T đồng ý. Khoảng 20 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô vào chốt bảo vệ Đờn đang trực, sau khi bàn bạc, T vào bãi tập kết vật liệu của Công ty L2 18.1 sử dụng kìm cắt 8,1 m dây cáp điện loại 1C-240sqmm, hiệu BAOSHENG, chia thành 26 đoạn, bỏ vào bao đem ra để cạnh C1 rồi ra về; đồng thời gọi điện thoại thông báo cho Đ biết vị trí để tài sản trộm cắp. Đờn lấy 01 ba lô đựng số dây cáp trên mang ra gần chốt bảo vệ cổng cất giấu chuẩn bị mang đi bán nhưng bị bảo vệ kho chứa dây cáp điện của Công ty L2 18.1 tuần tra phát hiện.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 70/KL-HĐĐGTS ngày 20/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự T: 26 đoạn dây điện có vỏ nhựa màu đen, lõi đồng loại 1C-240sqmm, hiệu BAOSHENG, trọng lượng 19,8 kg có giá trị 3.026.000 đồng.
- Vật chứng vụ án:
- 26 đoạn cáp điện vỏ cao su màu đen, lõi kim loại hiệu BAOSHENG, tổng chiều dài 8,1 m, nặng 19,8 kg đã được Cơ quan điều tra ra quyết định xử lý bằng hình thức trả cho chủ sở hữu.
- 01 kiềm cắt cáp màu xám hiệu MAXPRO loại 900 mm, dài 89 cm; 01 bao màu trắng có kích thước 50 x 80 cm; 01 ba lô màu đen có dòng chữ “SPORT”; 01 xe mô tô hiệu HONDA WAVE RSX biển số 36B4-143.74, số máy JA32E1075061, số khung 3206FY034999; 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG GALAXY A53 5G; 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen; 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 6S PLUS màu hồng đang tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 26/CT-VKS-HS ngày 19/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa truy tố các bị cáo Nguyễn Đ, Doãn Tất T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố.
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đ từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Doãn Tất T từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về vật chứng vụ án:
- 26 đoạn cáp điện vỏ cao su màu đen, lõi kim loại hiệu BAOSHENG, tổng chiều dài 8,1 m, nặng 19,8 kg đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã N ra quyết định xử lý trả lại chủ sở hữu nên không xem xét.
- Đối với vật chứng liên quan tới việc phạm tội của các bị cáo còn giá trị sử dụng cần tịch thu phát mãi nộp ngân sách Nhà nước gồm: 01 xe mô tô hiệu HONDA WAVE RSX biển số 36B4-143.74, số máy JA32E1075061, số khung 3206FY034999; 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG GALAXY A53 5G; 01 điệu thoại di động hiệu IPHONE 6S PLUS màu hồng.
- Trả lại bị cáo Nguyễn Đ 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen do không liên quan đến hành vi phạm tội.
- Đối với vật chứng liên quan tới việc phạm tội của các bị cáo không còn giá trị sử dụng cần tịch tiêu hủy gồm: 01 kiềm cắt cáp màu xám hiệu MAXPRO loại 900 mm, dài 89 cm; 01 bao màu trắng có kích thước 50 x 80 cm; 01 ba lô màu đen có dòng chữ “SPORT”.
Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Đ và Doãn Tất T thống nhất hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa truy tố. Các bị cáo không tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt.
Trong lời nói sau cùng:
- Bị cáo Nguyễn Đ: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Bị cáo Doãn Tất T: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng ông Nguyễn Thế D vắng mặt nhưng đã có lời khai tại hồ sơ, và việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.
- Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị
hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Đ là bảo vệ Công ty nảy sinh ý định trộm cắp tài sản đã rủ Doãn Tất T cắt trộm cáp điện mang ra ngoài bán lấy tiền. Sau khi bàn bạc, T vào bãi tập kết vật liệu của Công ty L2 18.1 sử dụng kìm cắt 8,1 m dây cáp điện loại 1C-240sqmm, hiệu BAOSHENG, chia thành 26 đoạn, bỏ vào bao đem ra để cạnh C1 rồi ra về; đồng thời gọi điện thoại thông báo cho Đ biết vị trí để tài sản trộm cắp. Đờn lấy 01 ba lô đựng số dây cáp trên mang ra gần chốt bảo vệ cổng cất giấu chuẩn bị mang đi bán nhưng bị bảo vệ kho chứa dây cáp điện của Công ty L2 18.1 tuần tra phát hiện.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Đ và Doãn Tất T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở khu công nghiệp, gây tâm ảnh hưởng sự hoạt động của các công ty, doanh nghiệp. Nên cần phải xử lý nghiêm các bị cáo theo quy định của Bộ luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Do đó, cần có mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[5] Xét nhân thân, vai trò và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thì thấy rằng:
Các bị cáo không có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt. Các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gây thiệt hại không lớn. Ngoài ra, các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tài sản chiếm đoạt đã được trả lại cho chủ sở hữu nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để thấy được sự khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Đ, xét vai trò khởi sướng thực hiện hành vi cao hơn và phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc hơn bị cáo Doãn Tất T là cần thiết.
Đối với bị cáo Doãn Tất T, thực hiện hành vi đồng phạm, là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp, hành vi bị cáo T đã được phản ánh tại phần nội dung vụ án nên xét bị cáo T ở vai trò sau và áp dụng mức hình phạt thấp hơn bị cáo Đ là phù hợp.
Do đó, khi lượng hình cũng cần xem xét cân nhắc đến nguyên nhân, động cơ, mục đính, hậu quả, tính chất, mức độ, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt và xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.
[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, mức hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là có cơ sở, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về vật chứng vụ án:
+ 26 đoạn cáp điện vỏ cao su màu đen, lõi kim loại hiệu BAOSHENG, tổng chiều dài 8,1 m, nặng 19,8 kg đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã N ra quyết định xử lý trả lại chủ sở hữu nên không xem xét.
+ Đối với vật chứng liên quan tới việc phạm tội của các bị cáo còn giá trị sử dụng cần tịch thu phát mãi nộp ngân sách Nhà nước gồm: 01 xe mô tô hiệu HONDA WAVE RSX biển số 36B4-143.74, số máy JA32E1075061, số khung 3206FY034999; 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG GALAXY A53 5G; 01 điệu thoại di động hiệu IPHONE 6S PLUS màu hồng.
+ Trả lại bị cáo Nguyễn Đ 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen do không liên quan đến hành vi phạm tội.
+ Đối với vật chứng liên quan tới việc phạm tội của các bị cáo không còn giá trị sử dụng cần tịch tiêu hủy gồm: 01 kiềm cắt cáp màu xám hiệu MAXPRO loại 900 mm, dài 89 cm; 01 bao màu trắng có kích thước 50 x 80 cm; 01 ba lô màu đen có dòng chữ “SPORT”.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Đ;
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Doãn Tất T;
- Căn cứ Điều 106; Điều 292; Điều 293; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Đ 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội: “Trộm cắp tài sản”; thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Đ cho Ủy ban nhân dân phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa, nơi bị cáo thường trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Đ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại khoản 5 điều 65 của Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Đ.
2. Xử phạt:
Bị cáo Doãn Tất T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội: “Trộm cắp tài sản”; thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Doãn Tất T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa, nơi bị cáo thường trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo Doãn Tất T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại khoản 5 điều 65 của Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Doãn Tất T.
3. Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về vật chứng:
+ 26 đoạn cáp điện vỏ cao su màu đen, lõi kim loại hiệu, tổng chiều dài 8,1 m, nặng 19,8 kg đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã N ra quyết định xử lý trả lại chủ sở hữu nên không xem xét.
+ Đối với vật chứng liên quan tới việc phạm tội của các bị cáo còn giá trị sử dụng, tịch thu phát mãi nộp ngân sách Nhà nước gồm: 01 xe mô tô hiệu HONDA WAVE RSX biển số 36B4-143.74, số máy JA32E1075061, số khung 3206FY034999; 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG GALAXY A53 5G; 01 điệu thoại di động hiệu IPHONE 6S PLUS màu hồng.
+ Đối với vật chứng liên quan tới việc phạm tội của các bị cáo không còn giá trị sử dụng cần tịch tiêu hủy gồm: 01 kiềm cắt cáp màu xám hiệu MAXPRO loại 900 mm, dài 89 cm; 01 bao màu trắng có kích thước 50 x 80 cm; 01 ba lô màu đen có dòng chữ “SPORT”.
+ Trả lại bị cáo Nguyễn Đ 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen.
(Tình trạng, đặc điểm các vật chứng nêu trên theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thị xã N với Chi cục thi hành án dân thị xã Ninh Hòa ngày 28/3/2024).
5. Về án phí:
Bị cáo Nguyễn Đ, Doãn Tất T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo:
- Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tiến Oai |
Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA về vụ án hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 40/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
