|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 40/2024/HS-PT Ngày: 20-5-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Phong Lan
Các Thẩm phán: Ông Bích Văn Nhiên, ông Đặng Văn Cường
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồ Thu Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Đỗ Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 21/2024/TLPT-HS ngày 27 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thanh D, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 10 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thanh D, sinh năm 1994; Nơi sinh: tỉnh Bình Thuận; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn A, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông: Nguyễn Thanh D1 và bà Đinh Thị N; Vợ: Phạm Thị Mỹ T; Con: Có 3 người con lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Phạm Hữu D2, Hứa Văn H, Lê Văn Q, Nguyễn Văn C, Nguyễn Trung D3, Nguyễn Bảo Â, Phạm Hữu D4, Nguyễn Như H1, Mai Trọng T1 không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị (không được Tòa án triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thanh D, sinh năm 1994, trú tại thôn A, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận đã gặp gỡ, quen biết nên cấu kết và có hứa hẹn trước với một số tài xế, lái xe thuê của Công ty cổ phần C3 về việc các tài xế, lái xe của Công ty nếu có bán dầu diesel thì Nguyễn Thanh D sẽ mua dầu với giá 450.000đ/can 30 lít, một số tài xế lái xe nghe và đồng ý, khi được Công ty giao xe và dầu diesel cho các tài xế, lái xe để chạy, số dầu còn dư lại khoảng 02 - 03 lít sau mỗi ngày chạy, các tài xế, lái xe không báo cho Công ty biết số dầu còn dư mà để dồn lại khi nào đủ 01 can (30 lít) thì tìm người để tiêu thụ, sau khi các lái xe gom góp dầu lại đủ 01 can (30 lít) thì sẽ gọi cho Nguyễn Thanh D đến mua, sau đó một số tài xế, lái xe máy đào, ủi, lu và xúc của Đội 2 và Đội 3 của Công ty cổ phần C3, đang thi công tuyến cao tốc V - P, đoạn qua địa phận các xã H, T, Hàm C1 và xã H cùng huyện H, tỉnh Bình Thuận, đã liên hệ với Nguyễn Thanh D, đến để mua dầu diesel của các tài xế lái xe của Công ty cổ phần C3 đã lén lút lấy trộm dầu của Công ty có được bán cho Nguyễn Thanh D, với giá 450.000đ/thùng/can 30 lít. Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2022 đến ngày 02/01/2023, các lái xe của Đội 2 và Đội 3 Công ty cổ phần C3 đã bán dầu cho Nguyễn Thanh D 02 lần, với tổng số dầu diesel là 1.620 lít, cụ thể như sau:
Lần 1: Do có một số lái xe có trao đổi thỏa thuận việc mua bán dầu với Nguyễn Thanh D trước đó, khoảng 09 giờ sáng ngày 29/12/2022 Lưu Văn H2, sinh năm 1976, trú tại Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (lái xe ô tô 82C-059.85) là lái xe Đội 3 của Công ty N3 đang thi công cho công trình cao tốc V - P, đoạn đi qua địa phận các xã H, T, H, H cùng huyện H, gọi điện thoại cho Nguyễn Thanh D nói đã lấy trộm được 02 can dầu (mỗi can 30 lít) và hẹn đến tối khoảng 19 giờ cùng ngày Nguyễn Thanh D đến vị trí km 214 thuộc đường C - P để lấy dầu (theo lời khai của D), thì được Nguyễn Thanh D đồng ý, đến giờ hẹn Nguyễn Thanh D điều khiển xe ô tô tải biển số 86C-016.94 (xe của D làm chủ sở hữu) đến địa điểm đã hẹn gặp H2, tại đây Nguyễn Thanh D mua của H2 02 can dầu (mỗi can 30 lít), trong lúc Nguyễn Thanh D mua dầu của H, một số đối tượng biết việc Nguyễn Thanh D có mua dầu nên một số các tài xế, lái xe khác của Công ty N3 gồm: Nguyễn Xuân M, sinh năm 1994, trú tại xóm T, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An (lái xe ô tô 29H-477.79); Ngô Xuân T2, sinh năm 1977, trú tại Tổ dân phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (lái xe ô tô 29H-510.20); Nguyễn Công T3, sinh năm 1994, trú tại thôn A, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (lái xe ô tô 82C-056.31); Phạm Ngọc B, sinh năm 1987, trú tại Tổ A, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum (lái xe ô tô 29H-511.48); Tôn Nhật L (Lâm nhỏ), sinh năm 1992, trú tại thôn L, xã H, huyện H (lái xe ô tô 29H-479.67); Nguyễn Thanh Q1, sinh năm 1988, trú tại 7 N, phường Đ, huyện A, tỉnh Bình Định (lái xe ô tô 82C-055.30); Nguyễn Phương L1 (Lâm lớn), sinh năm 1974, trú tại K Nay S, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum (lái xe ô tô 29H-511.85) lần lượt chạy xe đến, mang dầu diesel xuống bán cho Nguyễn Thanh D mỗi người bán (02 can, mỗi can 30 lít), riêng Nguyễn Phương L1 (Lâm lớn) bán 01 can/30 lít. Trong các đối tượng trên, có Nguyễn Xuân M và Nguyễn Công T3 đã liên hệ, hứa hẹn trước với Nguyễn Thanh D và hẹn địa điểm đến mua, lấy dầu, số đối tượng còn lại nghe các đối tượng khác (hiện chưa xác định đối tượng) truyền tai nhau biết nên mang dầu đến để bán cho Nguyễn Thanh D. Tổng số dầu Nguyễn Thanh D đã mua 15 can dầu, mỗi can 30 lít, tổng cộng D đã mua trong ngày 29/12/2022 của một số lái xe của Công ty C3 là 450 lít dầu diesel (450.000đ/can 30 lít), với số tiền 6.700.000đ, sau khi nhận số tiền trên các đối tượng đã tiêu xài cá nhân hết.
Lần 2: Biết Nguyễn Thanh D có mua dầu diesel, do trước đó một số đối tượng có gặp trao đổi và thống nhất với Nguyễn Thanh D về việc mua bán dầu diesel sau khi lấy trộm được, vào ngày 01/01/2023 Mai Trọng T1, sinh năm 1978, trú tại Tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (lái xe ô tô 82C-056.44); Lê Văn Q, sinh năm 1983, trú tại thôn I, xã Đ, huyện K, tỉnh Kon Tum; Nguyễn Văn C, sinh năm 1977, trú tại thôn G, xã N, huyện C, tỉnh Gia Lai (lái xe ô tô 82C-059.28) và Hứa Văn H, sinh năm 1981, trú tại khóm H, phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (lái xe ô tô 82C-053.17) là các lái xe Đội 2 của Công ty N3 đang thi công cho công trình cao tốc V - P, đoạn đi qua địa phận các xã H, xã T, xã H, xã H, huyện H gọi điện thoại cho Nguyễn Thanh D và hẹn Nguyễn Thanh D đến trạm trộn bê tông ở km B đường C - P để mua, lấy dầu diesel, thì Nguyễn Thanh D đồng ý (T1, Q, C và H đã hứa hẹn trước với Nguyễn Thanh D về việc khi lấy trộm được dầu thì gọi điện cho D đến để mua dầu). Sau đó, khoảng 18 giờ cùng ngày Nguyễn Thanh D gặp Phạm Hữu D2, sinh năm 1992, trú tại thôn B, xã T, huyện H (là anh vợ của D), nói: “tối nay anh rảnh đi phụ em xách dầu ở cao tốc”, D2 hỏi: “dầu gì”, Nguyễn Thanh D nói: “dầu em mua của mấy ông tài xế lấy trộm của công trình cao tốc”, D2 hỏi lại: “mấy giờ đi”, Nguyễn Thanh D nói: “khoảng 01 giờ sáng”, nghe vậy D2 biết là Nguyễn Thanh D đi mua dầu trộm của các tài xế lái xe cho cao tốc đã lấy trộm dầu bán cho Nguyễn Thanh D nên D2 đồng ý, sau đó cả hai về nhà ngủ. Đến khoảng 01 giờ ngày 02/01/2023, Nguyễn Thanh D điều khiển xe ô tô tải biển số 86C-016.94 chở D2 đến địa điểm đã hẹn trước đó thì thấy xe ô tô tải 82C-056.44, trên xe lúc này có T1, Nguyễn Thanh D gọi T1 dậy và xách từ trên xe của T1 10 can dầu diesel (mỗi can 30 lít/1thùng), bán cho Nguyễn Thanh D (trong đó: của T1 lấy trộm (02 can), còn lại của Nguyễn Trung D3, sinh năm 1982, nơi đăng ký NKTT: Tổ E, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum; Chỗ ở: A Đ, phường D, thành phố K, tỉnh Kon Tum (03 can) (mỗi can 30lít/1 thùng, tổng cộng là 90 lít), có tổng trị giá qua định giá là 2.033.100đ; Huỳnh Ngọc T4, sinh năm 1971, trú tại Tổ F, khu phố L, thị trấn M, huyện H (02 can); Nguyễn Văn T5, sinh năm 1978, trú tại thôn A, xã T (01 can); Lê Trần Đại D5, sinh năm 2003, trú tại thôn B, xã T, (01 can) và Phạm Văn Đ, sinh năm 1990 trú tại Tổ A, phường Q, thành phố K, tỉnh Kon Tum (01 can), D3, T5, D5 và Đ biết có người mua dầu (biết được do truyền tai nhau qua lại trong quá trình làm việc tại công trình) nên khi lấy trộm dầu của Công ty N3 và gửi nhờ T1 bán hộ (giúp, dùm), (T1 không hứa hẹn gì trước với D3, T5, T4, D5 và Đ về việc lấy trộm dầu của công ty, nhưng khi D3, T5, T4, D5 và Đ mang can dầu đến nhờ T1 bán hộ thì T1 biết đó là dầu do các đối tượng này lấy trộm của công ty nhờ T1 bán giúp và được T1 đồng ý), Nguyễn Thanh D xách sang xe của D đưa cho D2 (D2 đứng trên thùng xe ô tô tải của D để sắp xếp số can dầu khi D chuyển lên), sau khi nhận được dầu Nguyễn Thanh D đưa lại cho T1 số tiền (450.000đ x 10 can) = 4.500.000₫.
Sau đó, Nguyễn Thanh D điều khiển xe chở số dầu vừa mua được quay lại đến km 217 thì thấy xe ô tô ben màu vàng biển số 82C-056.86 của Q, Nguyễn Thanh D đến gọi Q dậy lấy 10 can dầu diesel (mỗi can 30 lít) bán cho D (trong đó: của Q lấy trộm (02 can), của Lê Văn M1, sinh năm 1979 trú tại phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên (02 can) và Lê Văn Đ1, sinh năm 1965, trú tại khu phố E, phường P, thành phố P T, tỉnh Ninh Thuận (01 can), còn lại 05 can dầu của các đối tượng có tên gọi Út Cưng; H3, T6 và 02 người khác (hiện chưa xác định được lai lịch) mỗi người 01 can (Q đã hứa hẹn trước với M1, Đ1 cùng các đối tượng biết có người mua dầu do truyền tai nhau qua lại trong quá trình làm việc tại công trình, lấy trộm dầu của Công ty N3 và gửi nhờ Q bán hộ giúp, đối với 01 can dầu (30 lít) của Đ1, Q đã giúp sức cho Đ1 lấy trộm (01 can) và bán giúp Đ1, cụ thể: Vào sáng ngày 01/01/2023, trong lúc Q chở phi dầu đến cho Đ1 để Đ1 đổ vào xe máy lu để vận hành, Đ1 đã kêu Q giữ lại 01 can dầu (30 lít) trong phi dầu dùm Đ1 và nhờ Q bán dùm cho Đ1, thì Q đồng ý), Nguyễn Thanh D cùng Q đưa số dầu trên qua xe của Nguyễn Thanh D cho D2 sắp xếp lên xe, 10 can với số tiền (450.000₫ x 10 can) = 4.500.000đ, Nguyễn Thanh D chưa đưa số tiền này cho Q.
Nguyễn Thanh D tiếp tục điều khiển xe ô tô tải cùng D2 đến km 216 thì gặp xe tải ben màu xám biển số 82C-059.28 của C, C đang ngủ trên xe, Nguyễn Thanh D gõ cửa gọi C dậy, C xách 08 can dầu diesel (mỗi can 30 lít) trên xe của C xuống bán cho D (trong đó: của C lấy trộm 04 can (120 lít), có trị giá qua định giá là 2.710.800đ; của Lê Văn M2, sinh năm 1959, trú tại thôn P, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi lấy trộm 02 can (60 lít) và của Nguyễn Ngọc Ái N1, sinh năm 1974, trú tại khu phố L, thị trấn M, huyện H lấy trộm 02 can (60 lít). Mười biết có người mua dầu do truyền tai nhau qua lại trong quá trình làm việc tại công trình, đã lấy trộm dầu của Công ty C3 và gửi nhờ C bán giúp. Đối với 02 can dầu (60 lít) mà N1 lấy trộm của Công ty, Q đã giúp sức cho N1 lấy trộm, nhưng do không có chỗ cất giấu dầu nên Q đã nhờ C bán dùm và đã bơm 60 lít dầu từ cây dầu của Công ty C3 vào trong thùng xe ô tô tải của C để cất giấu, thì C đồng ý giúp N1 lấy trộm và bán 02 can dầu này (theo lời khai của Q và C), 02 can dầu của N1 có trị giá qua định giá là 1.355.400đ. C xách dầu qua xe của Nguyễn Thanh D đưa cho D2 xếp lên xe. Sau khi nhận dầu xong, Nguyễn Thanh D đưa cho C số tiền (450.000₫ x 08 can) = 3.600.000₫.
Nhận dầu xong, Nguyễn Thanh D tiếp tục điều khiển xe ô tô tải chạy trên đường cao tốc theo hướng Bắc thêm khoảng 100m thì gặp xe tải màu vàng, biển số 82C-053.17 của Hơn, nhưng không có Hơn ở đó (Hơn đi chơi ở thành phố P không về kịp), Nguyễn Thanh D gọi điện cho H, H chỉ chỗ để chìa khóa xe 82C-053.17 để mở khóa của bình chứa dầu trong xe ô tô và kêu Nguyễn Thanh D hút đầy 11 can dầu (mỗi can 30 lít), Nguyễn Thanh D đến lấy chìa khóa và cùng D2 đến hút đầy và đủ 11 can dầu từ trong bình chứa dầu trên xe ô tô 82C-053.17 của H (theo lời khai của Nguyễn Thanh D và D2, trước khi đi Hơn đã đỗ toàn bộ 11 can dầu của H và các đối tượng đã gửi, nhờ H bán dùm vào hết trong bình chứa dầu của xe ô tô) vào các can đựng dầu (trong đó: của H lấy trộm (02 can); của Phạm Hữu D4, sinh năm 1990, trú tại thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên (03 can) có trị giá qua định giá là 2.033.100đ; Nguyễn Như H1, sinh năm 1960, trú tại thôn E, xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai (03 can) có trị giá qua định giá là 2.033.100đ; Nguyễn Bảo Â, sinh năm 2000, trú tại thôn D, xã T, huyện H (03 can) có trị giá qua định giá là 2.033.100đ, nhờ Hơn bán giúp, (trước đó, H gặp và nói chuyện với Phạm Hữu D4, H1 và Â là có người tên Nguyễn Thanh D nó nhận mua dầu với số tiền 450.000đ/1can/30 lít, anh em có gom thì để Hơn bán dùm), đến chiều ngày 01/01/2023 H gặp Phạm Hữu D4, H1 và Â hỏi đã lấy trộm được bao nhiêu dầu thì Phạm Hữu D4, H1 và Â nói mỗi người lấy được mỗi người (03 can dầu), mỗi can chứa đầy 30 lít, Phạm Hữu D4, H1 và Â đã đưa số dầu trên cho Hơn giữ và bán giúp họ. Đối với số tiền Nguyễn Thanh D mua 11 can dầu của H với số tiền (450.000₫ x 11 can) = 4.950.000đ, Nguyễn Thanh D hẹn sẽ chuyển tiền bằng hình thức chuyển khoản cho H, nhưng D chưa chuyển tiền cho H. Tổng số dầu D đã mua trong ngày 02/01/2023 là 39 can dầu, mỗi can 30 lít/thùng, là 1.170 lít dầu Diesel, sau khi mua được số dầu trên Nguyễn Thanh D và D2 điều khiển xe ô tô chở số dầu trên để về nhà cất giấu. Đến khoảng 03 giờ sáng ngày 02/01/2023, Công an xã T đang tuần tra tại tuyến đường liên thôn thuộc thôn B, xã T, huyện H phát hiện xe ô tô của Nguyễn Thanh D và D2 đang chở nhiều can dầu diesel có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu kiểm tra. Qua làm việc, Nguyễn Thanh D và D2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Ngoài ra, trước ngày 29/12/2022 khoảng 02 ngày (tức là ngày 27/12/2022) D có gặp và quen biết với Nguyễn Ngọc S (sinh năm 1973, trú tại Tổ E, phường D, thành phố K, tỉnh Kon Tum) là lái xe lu của Công ty cổ phần C3 đang thi công công trình cao tốc V - P, S là lái xe Đội 3 của Công ty N3, được Công ty giao xe và dầu Diesel để chạy, số dầu còn dư sau mỗi ngày, S dồn lại được 01 can (30 lít), S mang 01 can dầu đến nhà của Duy bán với số tiền 450.000đ và tiêu xài hết, (qua định giá 30 lít x 22.030 đồng/lít = 660.900₫).
* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 09/01/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng huyện H, kết luận về giá trị tài sản bị chiếm đoạt như sau:
- 450 lít dầu Diesel bị chiếm đoạt ngày 29/12/2022 thời điểm định giá ngày 29/12/2022, có giá trị là 9.913.500₫ (22.030đ/01 lít);
- 1.170 lít dầu Diesel bị chiếm đoạt ngày 02/01/2023 thời điểm định giá ngày 02/01/2023, có giá trị là 26.430.300đ (22.590đ/01 lít).
Tổng giá trị tài sản định giá là: 36.343.800 đồng.
* Tại Công văn số 504/STC-QLG&CS ngày 23/02/2023 của Sở tài chính tỉnh B, thể hiện giá dầu Diesel của Công ty cổ phần X như sau: Giá bán lẻ từ 15 giờ 00 ngày 21/12/2022 đến 00 giờ 00 ngày 01/01/2023 là: 22.030 đồng/lít; Giá bán lẻ từ 00 giờ 00 ngày 01/01/2023 đến 15 giờ 00 ngày 03/01/2023 là 22.590 đồng/lít.
Vật chứng vụ án thu giữ và xử lý:
- Đối với số dầu 1.620 lít dầu diesel, sau khi tạm giữ và làm rõ. Cơ quan CSĐT - Công an huyện H đã xử lý vật chứng giao trả lại cho ông Nguyễn Khả N2 và ông Võ Lê H4 là những người được đại diện theo uỷ quyền của công ty theo đúng quy định.
- Số tiền 6.800.000đồng (trong đó gồm: của Lê Văn Q 900.000đồng; Nguyễn Văn C 2.000.000đồng; Nguyễn Trung D3 1.150.000đồng; Mai Trọng T1 1.400.000đồng; Ngô Xuân T2 900.000đồng và Nguyễn Ngọc S 450.000đồng, đây là tiền thu lợi bất chính từ việc các đối tượng đã lấy trộm dầu diesel của công ty đem bán cho Nguyễn Thanh D và Phạm Hữu D2 có được đã tự nguyện giao nộp cùng với 01 xe tải, hãng M3, biển số 86C-016.94, loại xe 900kg (không có giấy đăng ký xe) màu xanh (xe của Nguyễn Thanh D); 54 can nhựa rỗng dùng để chứa dầu diesel và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 mini, đã qua sử dụng, đây là những công cụ, phương tiện dùng vào việc tham gia chiếm đoạt tài sản, là những vật chứng của vụ án. Toàn bộ số vật chứng trên, Viện kiểm sát nhân dân huyện chuyển từ Cơ quan CSĐT Công an huyện đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc bảo quản, chờ xử lý.
- Đối với điện thoại di động loại trắng đen dùng bằng bàn phím mà Lê Văn Q, Mai Trọng T1, Nguyễn Văn C và Hứa Văn H dùng để liên lạc cho Nguyễn Thanh D đến thu gom mua dầu diesel, sau đó bị hư hỏng Q, T1, C và H đã vứt bỏ, nên không thu giữ được (theo lời khai của Q, T1, C và H).
Về dân sự: Ông Nguyễn Trường T7 (là người được đại diện theo uỷ quyền của Công ty) đại diện bị hại, sau khi nhận lại số lượng 1.620 lít dầu diesel đã mất và số tiền 5.000.000 đồng do bị cáo Nguyễn Thanh D bồi thường, ông T7 không có yêu cầu bồi thường gì thêm và xin bãi nại cho tất cả các bị cáo.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 10 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã quyết định:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Nguyễn Thanh D 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo khác (không kháng cáo), quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 16 tháng 01 năm 2024, bị cáo Nguyễn Thanh D kháng cáo yêu cầu sửa bản án hình sự sơ thẩm theo hướng cho bị cáo từ hình phạt tù sang hình phạt cải tạo không giam giữ.
Ngày 20 tháng 02 năm 2024 và ngày 16 tháng 4 năm 2024 bị cáo Nguyễn Thanh D làm đơn kháng cáo bổ sung xin giảm nhẹ hình phạt và xin được cải tạo không giam giữ.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Ý kiến của bị cáo Nguyễn Thanh D: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cải tạo không giam giữ. Bị cáo Nguyễn Thanh D cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới là Đơn xin xác nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn, con đông, còn nhỏ, là lao động chính trong gia đình (có xác nhận của chính quyền địa phương), có ông nội là người có công với cách mạng và bồi thường thêm cho bị hại 15.000.000 đồng; bị hại tiếp tục gửi đơn xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm các tài liệu, chứng cứ mới là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh D, sửa bản án sơ thẩm, giảm cho bị cáo 03 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh D nộp trong hạn luật định, đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thanh D khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như bản án sơ thẩm, không oan, là phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2022 đến ngày 02/01/2023, Nguyễn Thanh D đã nhiều lần mua dầu của các tài xế, lái xe Đội 2 và Đội 3 của Công ty cổ phần C3 tại các địa điểm của Công trình thi công cao tốc V - P đoạn qua địa phận các xã H, T, Hàm C1 và xã H cùng huyện H, với tổng số dầu diesel là 1.650 lít. Tổng số dầu diesel qua định giá là 37.004.700 đồng. Trong đó cụ thể như sau:
- Lần 1: Ngày 29/12/2022 Nguyễn Thanh D đã hứa hẹn trước với Nguyễn Công T3 và Nguyễn Xuân M, sau đó D đã trực tiếp đến mua dầu diesel của các lái xe Đội 2 gồm: Lưu Văn H2, Nguyễn Thanh Q1, Nguyễn Công T3, Ngô Xuân T2, Tôn Nhật L, Nguyễn Xuân M và Phạm Ngọc B mỗi người 02 can (mỗi can 30 lít), Nguyễn Phương L1 01 can (30 lít). Tổng số dầu là 450 lít (15 can), thời điểm định giá ngày 29/12/2022, có giá trị là (450 lít x 22.030đ/01lít) = 9.913.500 đồng.
- Lần 2: Trước ngày 02/01/2023, Nguyễn Thanh D đã nhiều lần liên hệ, hứa hẹn và cấu kết với các tài xế, lái xe Đội 2 và Đội 3 của Công ty cổ phần C3 gồm: Mai Trọng T1, Lê Văn Q, Nguyễn Văn C và Hứa Văn H, sau đó Nguyễn Thanh D rủ Phạm Hữu D2 (anh vợ của D) để đi cùng D đến các địa điểm của Công trình thi công cao tốc V - P đoạn qua địa phận các xã H, T, Hàm C1 và xã H cùng huyện H để mua dầu diesel của T1, Q, C và H đã lấy trộm và nhận bán hộ thì D2 đồng ý. Tổng số dầu D đã mua trong ngày 02/01/2023 là 1.170 lít dầu Diesel đựng trong 39 can, mỗi can 30 lít, thời điểm định giá ngày 02/01/2023, có giá trị qua định giá là (1.170 lít x 22.590đ/01 lít) = 26.430.300đồng, trong đó mua cụ thể của những người sau:
Mai Trọng T1 đã bán cho Nguyễn Thanh D 10 can dầu (mỗi can 30 lít, tổng lượng dầu trong 10 can là 300 lít), (trong đó của T1 lấy trộm 02 can; Nguyễn Trung D3 đã lấy trộm 03 can; Huỳnh Ngọc T4 02 can, Nguyễn Văn T5, Lê Trần Đại D5 và Phạm Văn Đ mỗi người 01 can) T1 không hứa hẹn gì trước với D3, T5, T4, D5 và Đ về việc lấy trộm dầu của công ty, nhưng khi D3, T5, T4, D5 và Đ mang can dầu đến nhờ T1 bán giúp, T1 biết đó là tài sản do D3 trộm cắp mà có nhưng đã đồng ý bán giúp.
Lê Văn Q đã bán cho Nguyễn Thanh D 10 can dầu 300 lít ( trong đó gồm có của Q lấy trộm 02 can, Lê Văn Đ1 lấy trộm 01 can, Lê Văn M1 lấy trộm 02 can, Út C2 lấy trộm 01 can, H3 lấy trộm 01 can, T6 lấy trộm 01 can và 02 người khác mỗi người 01 can chưa xác định được, những người này đều có hứa hẹn trước với Q về việc lấy trộm dầu, sau đó nhờ Q bán hộ). Ngoài ra, Q còn nhờ C bán hộ 02 can dầu của Nguyễn Ngọc Á Nhân lấy trộm nhờ Q bán giúp, Q nhờ lại C, nên Q phải chịu trách nhiệm đối với tài sản lấy trộm là 12 can dầu Diesel (360 lít), có giá trị qua định giá là (360 lít x 22.590đ/01 lít) = 8.132.400 đồng.
Nguyễn Văn C bán cho Nguyễn Thanh D 08 can dầu (240 lít) có giá trị qua định giá là (240 lít x 22.590đ/01 lít) = 5.421.600 đồng (trong đó gồm có của C lấy trộm 04 can (là 120 lít), Lê Văn M2 đã lấy trộm 02 can, Nguyễn Ngọc Ái N1 đã lấy trộm 02 can, sau đó nhờ Q bán hộ, Q tiếp tục nhờ lại C bán hộ).
Hứa Văn H bán cho Nguyễn Thanh D 11 can (330 lít) có giá trị qua định giá là (330 lít x 22.590đ/01 lít) = 7.454.700 đồng (trong đó gồm có của H lấy trộm 02 can, Phạm Hữu D4, Nguyễn Như H1 và Nguyễn Bảo  mỗi người đã lấy trộm 03 can). Những người nhờ Q, C và H bán hộ dầu đều có hứa hẹn trước đó.
Nguyễn Trung D3, Phạm Hữu D4, Nguyễn Như H1, Nguyễn Bảo  mỗi người đã lấy trộm 03 can dầu (90 lít), có giá trị qua định giá là (90 lít x 22.590đ/01 lít) = 2.033.100đồng, sau đó D3 nhờ T1 bán hộ, D4, H1 và  nhờ Hơn bán hộ.
Ngoài ra, trước đó vào ngày 27/12/2022 D4 đã hứa hẹn trước và tiêu thụ của Nguyễn Ngọc S 01 can dầu (30 lít), giá trị 30 lít dầu qua định giá là: (30 lít x 22.030đ/lít) = 660.900đồng.
Với các tình tiết trên, Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã xét xử bị cáo Nguyễn Thanh D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng, cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất của vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, đánh giá bị cáo có vai trò chính trong vụ án có đồng phạm, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, gồm: thành khẩn khai báo; chưa có tiền án, tiền sự; có ông nội cố (Nguyễn Văn S1) là liệt sỹ; đã bồi thường cho bị hại số tiền 5.000.000 đồng để khắc phục hậu quả; áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên. Từ đó xử phạt bị cáo 01 năm tù là phù hợp.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thanh D cung cấp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới như: Đơn xin xác nhận gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, là lao động chính trong gia đình (có xác nhận của chính quyền địa phương), các con còn nhỏ sinh năm 2017, 2019 và 2022 (kèm giấy khai sinh), có ông nội (Nguyễn Minh Đ2) là người có công với cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tiếp tục bồi thường thêm cho bị hại số tiền 15.000.000 đồng, bị hại tiếp tục gửi đơn xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Xét thấy tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và cung cấp thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới được quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, xét cho bị cáo được giảm 03 tháng tù như Kiểm sát viên đề nghị, thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.
[5] Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh D được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355, Điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh D. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 10 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, về phần hình phạt.
[2] Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh D, phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh D 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ vào điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Thanh D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 10/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (20/5/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Phong Lan |
Bản án số 40/2024/HS-PT ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 40/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Thanh D phạm tội "Trộm cắp tài sản"
