|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 40/2024/HS-ST |
|
|
Ngày: 18/07/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Loan
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Quốc Minh – Giáo viên
2. Ông Nguyễn Ngọc Ngư – Giáo viên nghỉ hưu
Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tốn - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại Toà án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2024/HSST ngày 18/03/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 05 năm 2024, đối với các các bị cáo:
1. Họ và tên: Lý Văn P, sinh ngày 29/10/2005 tại Bắc Kạn; (khi phạm tội 17 tuổi, 11 tháng, 9 ngày), tên gọi khác: không; Nơi thường trú và chỗ ở: Thôn L, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; Con ông: Lý Văn V, sinh năm 1979; con bà Lý Thị M, sinh năm 1979; Sống như vợ chồng với: Chị Vừ Thị C1, sinh năm 2005; có 01 con sinh năm 2023. Tiền án: không; Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 09/12/2021 bị Công an huyện P, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản.
Ngày 10/3/2022 bị Công an huyện P, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HS-ST ngày 29/01/2024 Toà án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (hành vi phạm tội xảy ra ngày 07/10/2023).
Bị cáo hiện đang thi hành án phạt tù của bản án khác (có mặt tại phiên tòa).
2. Họ và tên: Sùng Á C2, sinh ngày 23/02/2007 tại Bắc Kạn; (khi phạm tội 16 tuổi, 6 tháng, 16 ngày), tên gọi khác: không; Nơi thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; Con ông: Sùng A K, sinh năm 1979; con bà Trương Thị C3, sinh năm 1979; Vợ, con: Chưa có. Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 02/11/2021 bị Công an huyện P, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 37/2023/HS-ST ngày 20/09/2023 Toà án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 07 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng về tội Trộm cắp tài sản.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 19/2023/HS-ST ngày 29/01/2024 Toà án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (hành vi phạm tội xảy ra ngày 07/10/2023). Tổng hợp với 7 tháng tù treo của bản án 37/2023/HS-ST ngày 20/09/2023 Toà án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn là 15 tháng tù.
(Bị cáo hiện đang thi hành án phạt tù của bản án khác (có mặt tại phiên tòa).
3. Họ và tên: Ngô Văn D, sinh ngày 04/09/2006 tại Bắc Kạn; (khi phạm tội 17 tuổi, 01 tháng, 04 ngày), tên gọi khác: không; Nơi thường trú và chỗ ở: Thôn C, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; Con ông: Ngô Văn B, sinh năm 1989; con bà Hoàng Thị P1, sinh năm 1990; Vợ, con: Chưa có. Tiền án: không; Tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 18/2023/HS-ST ngày 29/01/2024 Toà án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (hành vi phạm tội xảy ra ngày 07/10/2023).
Bị cáo hiện đang thi hành án phạt tù của bản án khác (có mặt tại phiên tòa).
4. Họ và tên: Lý Văn H, sinh ngày 16/03/2005 tại Bắc Kạn; tên gọi khác: không; Nơi thường trú và chỗ ở: Thôn L, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; Con ông: Lý Văn P2, sinh năm 1986; con bà Lý Thị V1, sinh năm 1984; Vợ, con: Chưa có. Tiền án: không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không.
Bị cáo tại ngoại tại địa phương, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1976; Địa chỉ thường trú: Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (có đơn xin vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Ngô Văn B, sinh năm 1989; Địa chỉ thường trú: Thôn C, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của các bị cáo:
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Lý Văn P: Anh Lý Văn V, sinh năm 1979; Địa chỉ thường trú: Thôn L, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn (vắng mặt).
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Sùng Á C2: Anh Sùng Văn K1, sinh năm 2001; Địa chỉ thường trú: Thôn B, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn (có đơn xin vắng mặt)
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Ngô Văn D: Anh Ngô Văn B, sinh năm 1989; Địa chỉ thường trú: Thôn C, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn (có mặt).
Người bào chữa cho các bị cáo:
Người bào chữa cho bị cáo Lý Văn P và bị cáo Sùng Á C2: Bà Lê Thúy H2 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Ngô Văn D và bị cáo Lý Văn H: Ông Khuông Thanh Đ – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 07/10/2023, Ngô Văn D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, BKS 97B2-117.99 (xe của anh Ngô Văn B là bố đẻ của D) chở Lý Văn P, Lý Văn H, Sùng Á C, di chuyển theo đường Quốc lộ số 3 theo hướng Bắc Kạn - Thái Nguyên. Đến khoảng 01 giờ 30 ngày 08/10/2023 khi đến địa phận thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, do hết tiền, các đối tượng đi rẽ vào đường tỉnh lộ 263 hướng đi thị trấn Đ đi xã P mục đích tìm cơ hội trộm cắp tài sản. Khi đến nhà bà Đinh Thị T ở tổ dân phố C, thị trấn Đ, P, P thấy nhà bà T bật điện, cửa nhà không đóng, P nói với cả nhóm vào nhà bà T trộm tài sản, cả nhóm đồng ý.
D điều khiển xe mô tô đi qua nhà bà T khoảng 200m thì dừng lại, C2 và H quay lại vào nhà bà T lẻn vào nhà để trộm cắp tài sản, còn D và P ngồi trên xe cảnh giới. Thấy bà T đang ngủ trên giường, còn chị Nguyễn Thị H1 con gái bà T đang nằm ngủ trên chiếc giường gấp được kê ở phòng khách (đối diện cửa ra vào). Phía bên trái trên đầu giường gấp chỗ chị H1 ngủ có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17 màu xanh và 01 chiếc điện thoại di động loại đen trắng nhãn hiệu NOKIA 1280 màu đen được để trên chiếc gối đầu giường xếp. Chân lấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17 màu xanh rồi giấu vào túi quần, H lấy chiếc điện thoại nhãn hiệu NOKIA 1280 màu đen rồi giấu vào túi quần. Chị H1 tỉnh giấc phát hiện có kẻ gian đột nhập vào nhà, C2 và H đã bỏ chạy ra nơi P và D cảnh giới, P điều khiển xe chở 03 người đi xuống thành phố T. Khi đến đường tròn phường T, H đưa cho Dương cầm chiếc điện thoại di động đen trắng, sau đó C2 và H ở lại đây đợi, còn D và P đi về thành phố B để trả xe mô tô thì bị Công an thành phố B đang tiến hành xác minh tin báo tội phạm do 04 đối tượng trên đã thực hiện ngày 07/10/2023 tại thành phố B phát hiện, thu giữ xe mô tô và các vật chứng khác.
Tại bản kết luận định giá số 57/KL-HĐĐGTS ngày 16/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng huyện P kết luận là: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17 màu xanh giá trị còn lại là 3.032.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen giá trị còn lại là 80.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 3.112.000 đồng (ba triệu một trăm mười hai nghìn đồng).
Vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã trả 02 điện thoại di động cho chị Nguyễn Thị H1 để quản lý sử dụng. Chị H1 không yêu cầu gì về phần trách nhiệm dân sự đối với các bị cáo.
Đối với chiếc xe mô tô 97B2-117.99 Ngô Văn D dùng làm phương tiện thực hiện tội phạm, quá trình điều tra xác định là tài sản của ông Ngô Văn B (bố D), D tự ý lấy đi rồi chở các bị cáo cùng đi trộm cắp. Tài sản trên đã bị tạm giữ tại Công an thành phố B và đã được xem xét, giải quyết trong vụ án khác.
Tại bản cáo trạng số 08/CT-VKSPL ngày 14/03/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định truy tố Lý Văn P, Sùng Á C, Ngô Văn D và Lý Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, và nhất trí với nội dung Kết luận điều tra và bản Cáo trạng truy tố.
Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo P, C2, D và H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 (điểm i khoản 1 Điều 51 đối với bị cáo H); Điều 17; Điều 38; Điều 56; Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 101, Điều 102, Điều 104 của Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt:
Bị cáo Lý Văn P từ 12 đến 15 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Tổng hợp với hình phạt 10 tháng tù của bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HS-ST ngày 29/01/2024 của TAND thành phố Bắc Kạn. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội.
Bị cáo Sùng Á C2 từ 09 đến 12 tháng tù tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Tổng hợp với hình phạt 15 tháng tù của bản án hình sự sơ thẩm số 19/2024/HS-ST ngày 29/01/2024 của TAND thành phố Bắc Kạn.
Bị cáo Ngô Văn D từ 09 đến 12 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Tổng hợp với hình phạt 06 tháng tù của bản án hình sự phúc thẩm số 09/2024/HS-PT ngày 21/05/2024 của TAND tỉnh Bắc Kạn.
Bị cáo Lý Văn H từ 09 đến 12 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Vật chứng đã được xử lý xong nên không đề nghị xem xét. Trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên không đề nghị xem xét. Về án phí: Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 miễn án phí cho 4 bị cáo bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Các bị cáo không ý kiến tranh luận, không bào chữa. Những người bào chữa cho các bị cáo nhất trí với đánh giá về hành vi phạm tội của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với từng bị cáo; tuy nhiên đề nghị xem xét độ tuổi của các bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, hoàn cảnh gia đình, xử phạt các bị cáo ở mức hình phạt thấp nhất của mức đề nghị để các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm của bản thân.
Tại lời nói lời sau cùng, cả 4 bị cáo thể hiện ăn năn hối cải và xin được hưởng mức án nhẹ nhất, để sớm trở về là người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về trình tự tố tụng: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người đại diện theo pháp luật của các bị cáo dưới 18 tuổi, người bào chữa, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Cơ quan điều tra Công an huyện P và Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương đã áp dụng các quy định về tố tụng đối với người dưới 18 tuổi đối với các bị cáo Lý Văn P, Sùng Á C và Ngô Văn D theo đúng quy định.
Căn cứ vào giấy khai sinh bị cáo Sùng Á C2, sinh ngày 23/2/2007, tính đến ngày phạm tội 08/10/2023 bị cáo 16 tuổi, 6 tháng 16 ngày; bị cáo Ngô Văn D, sinh ngày 04/9/2006, tính đến ngày phạm tội D 17 tuổi 1 tháng 4 ngày. Bị cáo H đã trên 18 tuổi.
Riêng bị cáo Lý Văn P, theo căn cước công dân và thông tin trên dữ liệu dân cư quốc gia thì Phanh sinh ngày 02/10/2005, tính đến ngày phạm tội (08/10/2023) P đã trên 18 tuổi. Tuy nhiên, căn cứ theo giấy khai sinh số 127 ngày 29/9/2011 tại quyển số 01 năm 2011 của UBND xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn xác định bị cáo P sinh ngày 29/10/2005, tính đến ngày phạm tội là 17 tuổi 11 tháng 9 ngày. Tại phiên toà khi thẩm tra căn cước lý lịch, bị cáo P khai mình sinh ngày 29/10/2005, nhưng trong quá trình làm căn cước công dân đã bị nhầm ngày sinh. Do không hiểu biết nên bị cáo chưa làm thủ tục cải chính ngày sinh tại căn cước công dân của mình nên trong quá trình điều tra khi tự viết, tự trình bày bị cáo đều ghi ngày sinh theo căn cước công dân.
Tại Giấy xác nhận số 26/GXN-UBND ngày 26/4/2024, của UBND xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn đã xác định “Lý Văn P sinh ngày 02/10/2005, số căn cước công dân [...] cấp ngày 10/6/2021 và Lý Văn P, sinh ngày 29/10/2005 trong giấy khai sinh số 127 do UBND xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn ngày 29/9/2011 là một người”.
Căn cứ quy định theo Điều 417 của Bộ luật hình sự và nguyên tắc có lợi cho bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng căn cứ giấy khai sinh để xác định độ tuổi đối với Lý Văn P và áp dụng các quy định về tố tụng đối với người dưới 18 tuổi đối với bị cáo P là phù hợp.
Tại phiên toà, đại diện hợp pháp của bị cáo P đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, tính đến ngày xét xử bị cáo P cũng đã trên 18 tuổi. Đại diện hợp pháp của bị cáo C2 và bị hại là chị H1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại phiên toà, bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo Lý Văn P, S Chân không có ý kiến gì về việc vắng mặt người đại diện hợp pháp. Xét thấy việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử đối với bị cáo. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Xem xét lời khai của các bị cáo tại phiên toà là khách quan, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của đại diện bị hại, của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy rằng:
Các bị cáo P, C2, D, H là các đối tượng chơi bời lêu lổng, không có công ăn việc làm, thường xuyên đi di chuyển trên địa bàn từ tỉnh Bắc Kạn xuống tỉnh Thái Nguyên thấy ai sơ hở trong việc quản lý tài sản là thực hiện việc trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu sài. Vào khoảng 01 giờ 30 ngày 08/10/2023 bốn bị cáo di chuyển bằng xe mô tô do D điều khiển, khi đến địa phận thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, các đối tượng đi rẽ vào đường tỉnh lộ 263 hướng đi thị trấn Đ đi xã P với mục đích trộm cắp tài sản. Khi đến nhà bà Đinh Thị T, P thấy nhà bà T bật điện, cửa nhà không đóng, P nói với cả nhóm vào nhà bà T lấy trộm tài sản, cả nhóm đồng ý. D điều khiển xe mô tô đi qua nhà bà T khoảng 200m thì dừng lại, C2 và H quay lại vào nhà bà T để trộm cắp tài sản, còn D và P ngồi trên xe cảnh giới. Chân và H lẻn vào nhà, thấy chị H1 (con gái bà T) đang nằm ngủ trên giường xếp. Chân lấy chiếc điện thoại di động OPPO A17 màu xanh rồi giấu vào túi quần, H lấy chiếc điện thoại di động NOKIA 1280 màu đen rồi giấu vào túi quần. Sau khi lấy trộm được điện thoại thì C2 và H đã bỏ chạy ra nơi P và D cảnh giới, sau đó P điều khiển xe chở 03 bị cáo còn lại di chuyển xuống thành phố T. Khi đến đường tròn phường T, H đưa cho Dương cầm chiếc điện thoại di động đen trắng, sau đó C2 và H ở lại đây đợi, còn D và P đi về thành phố B để trả xe mô tô thì bị Công an thành phố B phát hiện, thu giữ vật chứng.
Theo kết luận định giá số 57/KL-HĐĐGTS ngày 16/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng huyện P đã kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17 màu xanh giá trị còn lại là 3.032.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen giá trị còn lại là 80.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị trộm cắp là 3.112.000 đồng (ba triệu một trăm mười hai nghìn đồng).
Theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định: “Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng.... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt từ từ 06 tháng đến 03 năm”
Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng số 08/CT-VKSPL ngày 14/03/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo P, C2, D và H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng trong hành vi phạm tội của các bị cáo:
Hành vi trộm cắp tài sản của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sử hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự địa phương. Hành vi phạm tội có tính chất ít nghiêm trọng. Các bị cáo phạm tội có sự bàn bạc hỗ trợ giúp sức lẫn nhau nhưng tính chất đồng phạm đơn giản. Ngoài 4 bị cáo không còn đồng phạm nào khác. Mục đích phạm tội là lấy trộm tài sản của người khác để bán lấy tiền chi tiêu ăn uống, nghỉ ngơi dọc đường. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu hồi được tài sản bị chiếm đoạt và đã trả lại cho chủ sở hữu.
[4] Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy rằng:
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử 4 bị cáo đều thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải do đó các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo H phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, do đó được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tính đến ngày phạm tội của bản án này, 3 bị cáo P, C2 và D chưa bị kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật do đó theo khoản 1 Điều 53 Bộ luật hình sự lần phạm tội này của 3 bị cáo trên không thuộc trường hợp tái phạm. Vì vậy trong vụ án này, cả 4 bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Xem xét về yếu tố nhân thân thấy rằng: Cả 4 bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở khu vực kinh tế khó khăn, gia đình thuộc diện hộ nghèo, bố mẹ và gia đình thiếu sự quan tâm, dạy dỗ, bỏ học sớm, ăn chơi đua đòi, không có công việc thu nhập ổn định. Điều kiện sống và nhận thức pháp luật có nhiều hạn chế. Bị cáo H có nhân thân tốt. Các bị cáo P, C2 đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Đặc biệt bị cáo C2 đã hai lần bị kết án về cùng tội danh. Hiện nay ba bị cáo P, C2, D đang chấp hành hình phạt tù theo bản án của Toà án nhân dân thành phố Bắc Kạn cũng về tội trộm cắp tài sản.
[5] Khi xem xét quyết định hình phạt Hội đồng xét xử căn cứ trên cơ sở xem xét tính chất mức độ nghiêm trọng, mục đích động cơ của hành vi phạm tội, độ tuổi của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân hoàn cảnh sống của các bị cáo, ý kiến tranh luận, bào chữa của người bào chữa cho các bị cáo thấy rằng mức hình phạt chính đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương đề nghị áp dụng đối với bị cáo C2 là phù hợp. Riêng đối với 3 bị cáo P, D và H có phần hơi nghiêm khắc, các bị cáo đều còn trẻ, có ý thức sửa đổi bản thân, cần tạo điều kiện cho bị cáo được hưởng khoan hồng của pháp luật, để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm. Các bị cáo hầu hết chưa đủ 18 tuổi, không có nghề nghiệp, không có thu nhập, sống phụ thuộc gia đình nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ.
Trong vụ án này, 3 bị cáo P, C2, D đang chấp hành hình phạt tù của bản án khác do đó cần tổng hợp hình phạt đối với ba bị cáo trên theo quy định của Điều 56 của Bộ luật hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là bà H1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh D không có yêu cầu giải quyết về trách nhiệm dân sự, do đó Hội đồng không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: 02 điện thoại di động đã được trả lại cho bà H1 quản lý sử dụng là đúng quy định của pháp luật. Đối với chiếc xe mô tô là phương tiện bị cáo D chở các bị cáo đi trộm cắp tài sản là của anh Ngô Văn B bố của D đã được xử lý trong vụ án khác, do đó Hội đồng không xem xét trong vụ án này.
[8] Án phí và quyền kháng cáo: Trong vụ án này các bị cáo được xem xét miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm do là hộ nghèo, người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn.
Các bị cáo, đại diện theo pháp luật của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 (điểm i khoản 1 Điều 51 đối với bị cáo H); Điều 17; Điều 38; Điều 56; Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 101, Điều 102, Điều 104 của Bộ luật hình sự; Điều 326, Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lý Văn P, Sùng Á C, Ngô Văn D, Lý Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Hình phạt:
2.1. Xử phạt: L1 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tổng hợp với 10 (mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HS-ST ngày 19/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 19 (mười chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/10/2023.
Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo Lý Văn P 21 (hai mươi mốt) ngày kể từ ngày 10/8/2024 để đảm bảo thi hành án.
2.2. Xử phạt: Sùng Á C (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tổng hợp với 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HS-ST ngày 19/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/3/2024.
2.3. Xử phạt: Ngô Văn D 7 (bẩy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tổng hợp với 6 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án hình sự phúc thẩm số 09/2024/HS-PT ngày 21/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2024.
2.4. Xử phạt: Lý Văn H 7 (bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành bản án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Không yêu cầu giải quyết.
4. Vật chứng: Đã xử lý xong nên không xem xét.
5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 12 của Nghị quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho cả 4 bị cáo.
Án xét xử sơ thẩm công khai. Báo cho các bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
CÁC THÀNH VIÊN HĐXX |
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Ngọc Ngư Đinh Quốc M1 |
Nguyễn Thị Thanh L |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thanh Loan |
Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 40/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
