Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 40/2024/HNGĐ - ST

Ngày 17 – 6 - 2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hải

Ông Nguyễn Văn Dương

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Ánh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Kim Duy Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 254/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2023, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2024/QĐST –HNGĐ ngày 22/5/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Lê Hữu L, sinh năm 1995
    Nơi cư trú: TDP K, phường M, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
  2. Bị đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1995
    Nơi cư trú: TDP K, phường M, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa có mặt anh L; vắng mặt chị H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Lê Hữu L trình bày:

Về hôn nhân: anh và chị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường M, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 21/3/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến đầu năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai bên không hợp nhau, bất đồng quan điểm, không thể hòa hợp được và không có hạnh phúc, từ tháng 02 năm 2021 cho đến nay vợ chồng sống ly thân, chị H bỏ về nhà mẹ đẻ ở TDP V, phường H ở cho đến nay. Nay

anh xác định tình cảm vợ chồng dành cho nhau không còn, mâu thuẫn gia đình đã trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn chị H.

Về con chung: anh và chị H có 02 con chung là Lê Nhân Hữu P, sinh ngày 04/4/2018 và Lê Thị Tú U, sinh ngày 26/01/2022, kể từ khi vợ chồng sống ly thân cháu P ở với anh, cháu U ở với chị H tại nhà ngoại. Khi ly hôn anh L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu P, giao cháu U cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn chị Lê Thị H: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho chị H, do chị H đã về nhà mẹ đẻ ở tại TDP V, phường H, chị H đi làm thường xuyên vắng nhà, nên Tòa án tống đạt văn bản tố tụng cho chị H thông qua mẹ đẻ chị H là bà Nguyễn Thị T.

Tòa án tiến hành xác minh tại gia đình chị H, mẹ chị H là bà Nguyễn Thị T cho biết: chị H và anh L kết hôn năm 2017 nhưng vợ chồng sống không hạnh phúc và ly thân khoảng 1 năm trở lại đây; khi anh L làm đơn ly hôn chị H có nhận được các thông báo của Tòa án. Tuy nhiên, chị H có nói lại với bà việc anh L ly hôn là quyền của anh L và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung, khi vợ chồng sống ly thân cháu P ở với anh L, cháu U ở với chị H tại nhà ngoại, chị H có nguyện vọng khi ly hôn chị trực tiếp nuôi dưỡng cháu U, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung, nên chị H không yêu cầu giải quyết.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa. Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh L. Về hôn nhân giải quyết cho anh L ly hôn chị H; Về con chung giao cháu Lê Nhân Hữu P, sinh ngày 04/4/2018 cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Lê Thị Tú U, sinh ngày 26/01/2022 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng; anh L và chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, nên không xem xét; Về tài sản chung: anh L và chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét; Về án phí: anh L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

2

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: anh L yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn giữa anh và chị H; chị H cư trú tại phường M, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; anh L đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự; chị H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu ly hôn và tình trạng hôn nhân giữa anh L và chị H: Anh L và chị H chung sống tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, mâu thuẫn trầm trọng nên vợ chồng đã sống ly thân. Anh L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn chị H. Chị H đã biết việc anh L yêu cầu ly hôn, nhưng không đến Tòa án để giải quyết, thể hiện chị H không tha thiết níu kéo hạnh phúc gia đình với anh L.

Vì vậy, có căn cứ để xác định hôn nhân giữa anh L và chị H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh L là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Anh L và chị H có 02 con chung là Lê Nhân Hữu P, sinh ngày 04/4/2018 và Lê Thị Tú U, sinh ngày 26/01/2022. Khi ly hôn anh L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu P; chị H có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu U.

HĐXX xét thấy anh L và chị H có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu của anh L giao cháu P cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu U cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các con.

Về cấp dưỡng nuôi con chung anh L và chị H không yêu cầu giải quyết, nên HĐXX không xem xét.

[4] Về tài sản chung: Anh L và chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Anh L khởi kiện vụ án ly hôn, không thuộc trường hợp được miễn án phí, nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

3

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

    Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

    Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQ14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Hữu L:
    • - Về hôn nhân: Anh Lê Hữu L được ly hôn chị Lê Thị H.
    • - Về con chung: Giao cháu Lê Nhân Hữu P, sinh ngày 04/4/2018 cho anh Lê Hữu L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Lê Thị Tú U, sinh ngày 26/01/2022 cho chị Lê Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh L và chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
  3. Về án phí: anh L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007007 ngày 26/12/2023.
  4. Quyền kháng cáo: Anh L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; chị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án, thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn;
  • - UBND xã Anh Sơn, TX Nghi Sơn;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Sơn

4

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HNGĐ - ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 40/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: anh L ly hôn chị H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger