Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/HS-ST

Ngày: 17/05/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Viết Vĩnh

2. Bà Hoàng Thị Kim Liên

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Giáp – Thư ký TAND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 05 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2024/TLST-HS ngày 8 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 04 năm 2024, đối với bị cáo:

  1. Họ tên: La Đình T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 27 tháng 7 năm 2004 tại: Thái Nguyên; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: xóm Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông: La Đình T1 (đã chết); Con bà: Nông Thị L, sinh năm 1986; Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 02 anh em; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
  2. Nhân thân: Ngày 20/3/2024 bị Công an huyện P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0002448 số tiền 6.500.000đồng về hành vi: Gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
  3. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 30/01/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
  4. Họ tên: La Đình T2; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01 tháng 8 năm 2007 (16 tuổi 04 tháng 7 ngày) tại: Thái Nguyên; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: xóm Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông: La Đình T1 (đã chết); Con bà: Nông Thị L, sinh năm 1986; Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 02 anh em; Vợ, con: Chưa có.
  5. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 20/3/2024 bị Công an huyện P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0002449 số tiền 3.250.000đồng về hành vi: Gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 30/01/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

  1. Họ tên: Dương Xuân L1; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 15 tháng 8 năm 2006 (17 tuổi 03 tháng 24 ngày) tại: Thái Nguyên; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: xóm B, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông: Dương Xuân H, sinh năm: 1976; Con bà: Nguyễn Thị M, sinh năm 1980; Cùng trú tại: xóm B, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 02 anh em; Vợ, con: Chưa có.
  2. Tiền án: Không.
  3. Tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 117/QĐ-XPHC ngày 01/11/2023 của Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt Dương Xuân L1 3.250.000 đồng về hành vi xúi giục, lôi kéo người khác cố ý gây thương tích và hành vi mang theo vũ khí thô sơ có khả năng sát thương nhằm mục đích cố ý gây thương tích cho người khác.
  4. Nhân thân: Ngày 20/3/2024 bị Công an huyện P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0002450 số tiền 3.250.000đồng về hành vi: Gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
  5. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 30/01/2024 đến nay. Hiện bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
  1. Họ tên: Tô Vi Hoàng A; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 12 tháng 8 năm 2006 (17 tuổi 03 tháng 27 ngày) tại: Thái Nguyên; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: tổ D T, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông: Tô Trung K, sinh năm: 1974; Con bà: Vi Thị Kiều V, sinh năm 1982; Cùng trú tại: tổ D T, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 02 anh em; Vợ, con: Chưa có
  2. Tiền án, tiền sự: Không.
  3. Nhân thân: Ngày 20/3/2024 bị Công an huyện P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0002451 số tiền 3.250.000đồng về hành vi: Gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
  4. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 30/01/2024 đến nay. Hiện bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Bị cáo T, T2, L1, Hoàng A có mặt tại phiên tòa)

Người bào chữa:

  • Người bào chữa cho bị cáo Tô Vi H: Ông Vũ Văn C – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T.
  • Người bào chữa cho bị cáo La Đình T2, Dương Xuân L1: Bà Nguyễn Ngọc Q – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T.

(ông C, bà Q có mặt tại phiên tòa)

Người đại diện hợp pháp cho các bị cáo:

  • Người đại diện hợp pháp của La Đình T2: Bà La Thị H1, sinh năm 1999

    Địa chỉ: Xóm Đ, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

  • Người đại diện hợp pháp của Dương Xuân L1: Ông Dương Xuân H, sinh năm 1976; Địa chỉ: Xóm B, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
  • Người đại diện hợp pháp của Tô Vi Hoàng A: Ông Tô Trung K, sinh năm 1974; Địa chỉ: Tổ D T, phường L, TP ., tỉnh Thái Nguyên

( Bà H1, ông H, ông K có mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Dương Đình T3, sinh ngày 09/9/2007

    Người đại diện hợp pháp của T3: Ông Dương Đình T4, sinh năm 1980

    Cùng cư trú: Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

(anh T3 và ông T4 có mặt)

  • Ông Tô Trung K, sinh năm 1974 (có mặt)

    Địa chỉ: Tổ D T, phường L, TP S, tỉnh Thái Nguyên

  • Bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1976 (có mặt)

    Địa chỉ: Xóm N, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

  • Anh Nguyễn Bá Đ, sinh ngày 17/12/2007 (có mặt)

    Người đại diện hợp pháp: Bà Lê Thị H2, sinh năm 1969 (có mặt)

    Cùng địa chỉ: Xóm N, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

  • Anh Nguyễn Anh T6, sinh ngày 29/12/2007 (có mặt)

    Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Hồng T7, sinh năm 1973 (có mặt)

    Cùng địa chỉ: Tổ C T, phường L, TP S, Thái Nguyên

  • Anh Nguyễn Bá T8, sinh năm 2003 (có mặt)

    Địa chỉ: Xóm N, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

  • Anh Dương Đình T9, sinh năm 2005 (có mặt)

    Địa chỉ: Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

  • Anh Dương Minh Q1, sinh ngày 09/6/2008 (có mặt)

    Người đại diện hợp Pháp: Bà Lê Thị Tuyết T10, sinh năm 1982

    Cùng địa chỉ: Xóm T, xã Đ, huyện P, Thái Nguyên

  • Anh Nguyễn Văn M1, sinh ngày 03/8/2007

    Người đại diện hợp Pháp: Bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1976

    Cùng Địa chỉ: Xóm N, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

(Anh M1, bà T5 có mặt)

Người làm chứng:

  • Anh Hoàng Minh H3, sinh năm 2005 (vắng mặt)

    Địa chỉ: Bản G, xã L, huyện N, tỉnh Bắc Kạn

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 06/12/2023, Nguyễn Anh T6; Dương Xuân L1; La Đình T2 đánh Dương Đình T3 tại phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Khi về nhà, T3 đã kể lại cho anh trai là Dương Đình T9 về việc bị đánh. Khoảng 09 giờ ngày 08/12/2023, khi đang trên đường đi chơi ở thành phố T, T9 đã rủ Hoàng Minh H3, sinh năm 2005, trú tại: bản G, xã L, huyện N, tỉnh Bắc Kạn đi cùng về đón T3 ở Trường C2. T9 gọi điện thoại cho anh họ là Dương Minh Q1, sinh ngày 09/6/2008 đi đến trường của T3 xem T3 bị đánh như nào. Sau đó, T9 chở H3 đến cổng trường công nghệ và thương mại đợi ở cổng, một lúc sau thì Q1 đến. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Anh T6 tan học ra quán nước ở đối diện cổng trường ngồi chơi. Lúc này, T3 cũng tan học và đi ra cổng trường gặp T9, H3, Q1. T3 nhìn thấy T6 đang ngồi trong quán nước nên đã dùng tay chỉ về phía T6 và nói với T9 “hôm nọ thằng T6 nó đánh em”. T9 một mình đi vào đứng đối diện T6 và dùng hai tay đấm 03 phát vào vùng mặt của T6. Bị đánh, T6 bỏ chạy. T9 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, BKS: 20P1-3637 chở H3 đi ra hướng đường Q lên thành phố T, còn T3 và Q1 đi về nhà. Sau khi bị đánh, T6 nhắn tin cho La Đình T, sinh năm 2004, trú tại: xóm Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên với nội dung T6 bị đánh, nhờ T ra đón về. Lúc này, T đang chơi game cùng với Dương Xuân L1 ở phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Khi nhận được tin T6 bị đánh, T gọi cho em trai là La Đình T2, sinh ngày 01/8/2007 (16 tuổi 04 tháng 07 ngày), trú tại: xóm Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên bảo T2 đến chỗ T6 và T đã ra đường và nhặt được 01 chiếc kiếm màu trắng không có lưỡi sắc ở rìa đường gần quán game, rồi bọc ngoài bằng bao tải rồi rủ L1 đi cùng. Khoảng 02 phút sau, do không có xe nên T nhìn thấy bạn là Tô Vi Hoàng A đi xe mô tô qua, T đã gọi Hoàng A lại và nhờ Hoàng A chở đến chỗ T6. Sau đó, Hoàng A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, BKS: 20B2-097.50 chở T và L1 đi ra cổng trường công nghệ và thương mại. Khi gặp T6 đang đứng ở gần cổng trường thì dừng lại. Lúc này, T6 nhìn thấy T9 chở H3 đi qua về hướng cầu chui cao tốc. Thấy vậy, T6 nói với nhóm bạn là T9 vừa đánh T6. T xuống xe đưa kiếm cho T6 cầm. Hoàng A lái xe máy chở L1 ngồi giữa, T6 ngồi sau cùng tay phải cầm kiếm đi theo xe của T9. Khi vừa qua hầm cầu vượt cao tốc, nhóm của Hoàng A nhìn thấy nhóm của T9 đang đứng ở đầu đường rẽ ngã ba. Lúc này, T3, T9, H3 mỗi người cầm một đoạn cây khô dài khoảng hơn 01 mét, Q1 tay trái cầm mũ bảo hiểm loại lưỡi chai. Khi đến nơi, Hoàng A dừng xuống xe thì cả hai nhóm lao vào đánh nhau. Quá trình đánh nhau, T6 bị thương phần mềm ở tay, vai và đầu và bị vụt rơi kiếm. T3 nhặt kiếm lên và vứt xuống ruộng ngô ở gần đó. Lúc này, người dân đi đường thấy đánh nhau nên đã dừng lại can ngăn thì hai bên không đánh nhau nữa. Sau khi nhận được điện thoại của T, T2 rủ Nguyễn Bá Đ mỗi người điều khiển một xe mô tô đến cổng trường công nghệ và thương mại gặp T để xem việc T6 bị đánh như nào. Khi hai nhóm không đánh nhau nữa, đang đứng chửi nhau thì T2 chở T và Đ một mình một xe đi đến. Sau đó, T9 chở H3 đi lên thành phố T, Q1, T3 và bạn học của T3 là Nguyễn Văn M1, sinh ngày 03/8/2007 đi về nhà.

Thấy nhóm T9 bỏ đi, Hoàng A chở L1 và T6 đuổi theo xe mô tô T9, H3 về hướng thành phố T để chặn đánh nhưng không đuổi kịp nên đã quay lại đuổi theo nhóm T3, Q1 theo Quốc lộ C về hướng huyện P để đánh nhóm này. T2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave không yếm, không nhớ biển kiểm soát chở T, Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, không nhớ biển kiểm soát đi một mình đi theo sau xe Hoàng A để đuổi đánh nhóm T9, H3 cùng nhóm Hoàng A nhưng không kịp nên rẽ đi sang đường Q để xuống khu công nghiệp Đ tìm đánh nhóm T3, Q1. Khi nhóm Hoàng A đi đến xóm T, xã Đ, huyện P thì đuổi kịp xe của T3 (lúc này T3 đang đi xe đạp điện), Hoàng A điều khiển xe mô tô vượt lên trước dừng xe lại T6, Hoàng A, L1 xuống xe đi lại chặn đầu xe của T3. T3 xuống xe thì L1 rút chìa khóa xe máy cắm ở ổ khóa xe mô tô của Hoàng A, L1 cầm chìa khóa ở tay phải đấm một phát phần đầu kim loại của chìa khóa vào má bên trái của T3 gây thủng da vùng má. Bị đánh, T3 bỏ chạy, T6 đuổi theo T3 và nhặt mảnh đá ở lề đường đánh về phía T3 nhưng không trúng. T3 chạy vào nhà người dân ở gần đó nên T6 không đánh được nữa. Sau đó, Hoàng A điều khiển xe chở T6 và L1 đi về hướng đường T, huyện P để về thì gặp nhóm T, T2, Đ đi đến. Khi gặp nhau cả nhóm bàn bạc thống nhất quay lại tìm T3, bắt T3 gọi anh trai T3 là T9 đến để cả nhóm đánh T9. Trên đường đi tìm T3, T nhặt 02 chiếc gậy tuýp sắt hình tròn dài khoảng hơn 01 mét ở rìa đường cạnh bãi đất trống thuộc xóm T, xã Đ, huyện P. T đưa cho L1 cầm 01 chiếc gậy tuýp sắt. Hoàng A bị đau tay nên đổi lái cho L1, L1 điều khiển xe mô tô chở T6 ngồi giữa, Hoàng A ngồi sau cùng, L1 đưa gậy sắt cho Hoàng A cầm, T2 điều khiển xe mô tô chở T, Đ điều khiển xe mô tô đi một mình. Cả nhóm đi theo đường Quốc lộ 37 hướng về hướng thành phố T. Khi đến gần đường rẽ vào trường THPT Đ3 thì cả nhóm thấy T3 ngồi sau xe máy Honda CUB do Nguyễn Văn M1 điều khiển đi ngược lại (do xe của T3 rơi mất chìa khóa nên T3 gửi xe vào nhà dân và đi xe cùng M1). L1 điều khiển xe vòng quay lại đuổi theo, xe của T2 và Đ cũng quay lại đuổi theo. Khi đuổi được khoảng 1,3km đến khu vực dốc ngã ba N thuộc xóm T, xã Đ, huyện P thì xe mô tô do L1 điều khiển đuổi kịp xe của M1 và T3. L1 điều khiển xe vượt lên bên trái xe rồi áp sát gần xe của M1, Hoàng A ngồi sau cầm gậy tuýp sắt vụt 2 – 3 phát trúng vào phía sau lưng của T3. M1 vẫn tiếp tục điều khiển xe rẽ phải đi về hướng thành phố P để về nhà T3. L1 tiếp tục điều khiển xe mô tô đuổi theo. Đuổi được khoảng 50 mét, L1 bảo M1 dừng xe lại thì M1 dừng xe lại ở rìa đường. L1 dừng xe ở trên đường cạnh đầu xe của M1. Lúc này, xe của T2 và xe của Đ chở T cũng đến nơi. L1 lấy gậy tuýp sắt mà Hoàng A đang cầm rồi cầm bằng hai tay giơ lên và hô to “chúng mày tránh ra”, L1 lao vào vụt liên tiếp khoảng 10 phát trúng vào 02 tay và chân phải của T3. Bị đánh, T3 ngồi nghiêng ở đường, hai tay ôm đầu. T6 lao vào dùng chân đá vào người T3 01 phát, Đ dùng xe máy lao vào chân Tài và dùng chân phải đạp vào đầu T3 01 phát. T cầm gậy sắt cùng T2 đứng cạnh T3. Lúc này, có nhiều người dân đi đường dừng lại xem và có người nói báo Công an nên nhóm của T6 lên xe đi về. Đi đến đường T, L1 đưa chiếc gậy tuýp sắt cho T. Đ chở T đến gần cổng khu công nghiệp Đ thì T vứt 02 chiếc gậy ở rìa đường. T3 bị thương được người nhà đưa đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện P.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình Tô Tiến D, Phạm Việt A1, Trần Trọng Đ1, Hoàng Văn C1, Hoàng Văn T11 và Lê Văn T12 đã tự nguyện bồi thường cho Nguyễn Văn H4 số tiền 15.000.000 đồng, cho L2 Hoàng A 20.000.000 đồng, cho Dương Văn H5 số tiền 10.000.000 đồng. (bao gồm tiền viện phí, chi phí của người chăm sóc phục vụ và các khoản chi phí khác). Nguyễn Văn H4, Lý Hoàng A2 và Dương Văn H5 không có yêu cầu, đề nghị gì khác.

Hậu quả:

  • Dương Đình T3 bị thương tích phải điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

    Tại Bản kết luận giám định số 08/KLTTCT-TTPY ngày 10/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T đối với Dương Đình T3, kết luận:

    1. Các kết quả chính: Hiện tại có 01 sẹo vết thương phần mềm vùng mặt KT nhỏ và 03 sẹo vết thương phần mềm KT nhỏ, trong đó:
      • Sẹo gò má trái, tỷ lệ: 3%.
      • Cơ chế hình thành vết thương: Do tác động của vật nhọn.
      • Sẹo mặt dưới cẳng tay phải, M2 bàn tay phải, tỷ lệ: 1%.
      • Cơ chế hình thành vết thương: Do tác động của vật tày.
      • Sẹo mu bàn tay phải, tỷ lệ: 1%.
      • Cơ chế hình thành vết thương: Do tác động của vật tày.
      • Sẹo ngón I bàn tay phải, tỷ lệ: 1%.
      • Cơ chế hình thành vết thương: Do tác động của vật tày.
      • Cộng lùi: 3%+1%+1%+1%=5,88% (Làm tròn số là 6%).
    2. Kết luận: Căn cứ thông tư số 22/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Dương Đình T3 tại thời điểm giám định là: 6% (sáu phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
  • Nguyễn Anh T6 bị thương phần mền ở tay, vai, đầu phải điều trị tại Bệnh viện G.

    Bản kết luận giám định số 112/KLTTCT-TTPY, ngày 23/02/2024, Trung tâm pháp y tỉnh T đối với Nguyễn Anh T6, kết luận:

    • Các kết quả chính: Hiện tại không còn dấu vết của thương tích.
    • Kết luận: Căn cứ thông tư số 22/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Anh T6 tại thời điểm giám định là: 0% (không phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
    • Cơ chế hình thành thương tích: Do tác động của vật tày. (BL 317).
  • Ngày 08/01/2024, Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện P có Công văn số 03/CV-UBND về việc đề nghị giải quyết vụ việc xảy ra ngày 08/12/2023 trên địa bàn xã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, gây hoang mang, bức xúc trong quần chúng nhân dân.
  • Ngày 23/12/2023, Dương Đình T3 có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người gây thương tích cho mình.

Tại Cơ quan điều tra, Dương Xuân L1, Nguyễn Anh T6, Tô Vi H, La Đình T, La Đình T2, Nguyễn Bá Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên. Lời khai của các bị cáo phù hợp nhau và phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, cùng tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án gồm:

  • Đối với 01 chiếc kiếm do La Đình T nhặt được để làm hung khí đánh nhau, Dương Đình T3 đã nhặt và vứt ở ruộng ngô tại khu vực cầu chui cao tốc thuộc phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thấy nên không thu hồi được.
  • Đối với 02 chiếc gậy tuýp sắt là hung khí Tô Vi Hoàng A2, Dương Xuân L1 và T cầm theo để đuổi đánh T3; T đã vứt ở lề đường thuộc xóm T, xã Đ đã truy tìm nhưng không thấy nên không thu hồi được.
  • Đối với xe mô tô của Nguyễn Bá Đ sử dụng khi thực hiện hành vi vi phạm là xe của anh trai Nguyễn Bá T8, sinh năm 2003, HKTT: xóm N, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. T8 đã bán xe cho một người lạ, không làm giấy tờ mua bán và không biết tên, tuổi, địa chỉ của người mua nên không thu hồi được.
  • Đối với xe mô tô của La Đình T2 sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội là xe của khách gửi tại nơi T2 làm việc. Tiệp không biết tên, tuổi, địa chỉ của chủ xe nên không thu hồi được.
  • Đối với các vật chứng còn lại:
    • 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Super CUB 50 màu xanh trắng, BKS: 20FB-6361, số máy: C50E-9766663; số khung: C50-9766596 đã qua sử dụng của Nguyễn Văn M1. Đây là phương tiện Nguyễn Văn M1 chở Dương Đình T3 khi bị các bị can đuổi đánh trên đường. Xe thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1976, trú tại: xóm N, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên là mẹ của Nguyễn Văn M1.
    • 01 (một) chiếc áo khoác màu đen đã qua sử dụng, cổ áo và ống tay áo, vạt áo phía dưới có may hai vòng màu vàng được niêm phong vào hộp giấy dán kín niêm phong ký hiệu “AT” của Nguyễn Anh T6. Đây là áo T6 mặc khi thực hiện hành vi vi phạm.
    • 01 (một) hộp giấy dán kín niêm phong ký hiệu “QAL” bên trong có:
      • 01 (một) chiếc áo khoác nỉ màu xanh, xám, trắng đã qua sử dụng, có mũ liền áo. Đây là áo của Dương Xuân L1 mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
      • 01 (một) chiếc quần bò màu xanh trắng, mặt trước quần bị rách đã qua sử dụng. Đây là quần của Dương Xuân L1 mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
    • 01 (một) chiếc chìa khóa làm bằng kim loại màu trắng bạc đã qua sử dụng, trên thân khóa có khắc “P022” được niêm phong vào bì thư dán kín, ký hiệu: “KA”. Đây là chìa khóa xe mô tô của T15; Dương Xuân L1 đã dùng chìa khóa này đánh gây thương tích ở má trái cho Dương Đình T3.
    • 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, gắn BKS: 20B2-097.50 đã qua sử dụng, số khung RLHJA3906HYG12156; số máy: JA39E0587301. Xe không có gương chiếu hậu hai bên, nhựa phía trên đèn hậu phía sau bị vỡ. Qua xác minh, đây là xe mô tô của ông Tô Trung K, sinh năm 1974, trú tại: tổ D T, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên (là bố đẻ của Tô Vi H). Chiếc xe này là phương tiện Dương Xuân L1 điều khiển chở Nguyễn Anh T6 và T Hoàng A2 thực hiện hành vi phạm tội.
    • 01 (một) hộp giấy dán kín niêm phong, ký hiệu: “QAA” bên trong có:
      • 01 (một) chiếc áo khoác nỉ lông màu đen đã qua sử dụng, có các dòng chữ màu trắng trên áo “BALENCIAGA”. Đây là áo của Tô Vi Hoàng A2 mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
      • 01 (một) chiếc quần bò màu đen, mặt trước quần bị rách nhiều chỗ đã qua sử dụng. Đây là quần của Tô Vi Hoàng A2 mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
    • 01 (một) miếng bê tông kích thước dài 21,5cm, rộng trung bình 06cm, dày 02cm được niêm phong vào túi giấy ký hiệu BT. Do Nguyễn Anh T6 nhặt ở lề đường dùng để đuổi đánh Dương Đình T3

Hiện đang được bảo quản và lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án huyện Phú Bình chờ xử lý.

Về dân sự:

  • Đối với thương tích của Dương Đình T3: gia đình của Dương Xuân L1, Tô Vi H, Nguyễn Anh T6 đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho Dương Đình T3 số tiền là 4.000.000 đồng. T3 và gia đình đã nhận đủ số tiền 4.000.000 đồng và không yêu cầu, đề nghị gì.
  • Đối với Nguyễn Anh T6: T6 không yêu cầu xử lý ai và không yêu cầu ai bồi thường khoản tiền nào.

Tại bản cáo trạng số 37/VKS-CT ngày 5/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố La Đình Tùng, La Đình Tiệp, Dương Xuân L1, Tô Vi Hoàng A2 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX:

  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 55, Điều 58 của BLHS đối với La Đình T xử phạt từ 36 – 42 tháng tù;
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; 38, 55, 58; Điều 90, 91, 98, 101 Bộ luật hình sự đối với La Đình T2, Dương Xuân L1, Tô Vi H. Xử phạt La Đình T2 từ 27- 33 tháng tù; Dương Xuân L1 và Tô Vi H từ 24 - 30 tháng tù;
  • Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
    • Trả lại cho bà Nguyễn Thị T5 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Super CUB 50 màu xanh trắng, BKS: 20FB-6361, số máy: C50E-9766663; số khung: C50-9766596 đã qua sử dụng của Nguyễn Văn M1;
    • Trả lại cho ông Tô Trung K 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, gắn BKS: 20B2-097.50 đã qua sử dụng, số khung RLHJA3906HYG12156; số máy: JA39E0587301.
    • Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc áo khoác màu đen đã qua sử dụng, cổ áo và ống tay áo, vạt áo phía dưới có may hai vòng màu vàng được niêm phong vào hộp giấy dán kín niêm phong ký hiệu “AT” của Nguyễn Anh T6; 01 (một) hộp giấy dán kín niêm phong ký hiệu “QAL” bên trong có: 01 (một) chiếc áo khoác nỉ màu xanh, xám, trắng đã qua sử dụng, có mũ liền áo. Đây là áo của Dương Xuân L1 mặc khi thực hiện hành vi phạm tội; 01 (một) chiếc quần bò màu xanh trắng, mặt trước quần bị rách đã qua sử dụng. Đây là quần của Dương Xuân L1 mặc khi thực hiện hành vi phạm tội; 01 (một) chiếc chìa khóa làm bằng kim loại màu trắng bạc đã qua sử dụng, trên thân khóa có khắc “P022” được niêm phong vào bì thư dán kín, ký hiệu: “KA”; Dương Xuân L1 đã dùng chìa khóa này đánh gây thương tích ở má trái cho Dương Đình T3; 01 (một) hộp giấy dán kín niêm phong, ký hiệu: “QAA” bên trong có: 01 (một) chiếc áo khoác nỉ lông màu đen đã qua sử dụng, có các dòng chữ màu trắng trên áo “BALENCIAGA”. Đây là áo của Tô Vi Hoàng A2 mặc khi thực hiện hành vi phạm tội; 01 (một) chiếc quần bò màu đen, mặt trước quần bị rách nhiều chỗ đã qua sử dụng; (một) miếng bê tông kích thước dài 21,5cm, rộng trung bình 06cm, dày 02cm được niêm phong vào túi giấy ký hiệu BT.
  • Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/QH ngày 30/12/2016 các bị cáo L1, Hoàng A2 phải chịu án phí theo quy định pháp luật, miễn án phí cho bị cáo T và T2.

Trong phần tranh luận, các bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan.

Đại diện hợp pháp của các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo có cơ hội tiếp tục học tập và sửa chữa.

Người bào chữa cho bị cáo Tô Vi Hoàng A3: Thống nhất hành vi phạm tội của bị cáo Tô Vi Hoàng A3 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” như cáo trạng và lời luận tội Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Người bào chữa cho bị cáo La Đình T2 và Dương Xuân L1: Nhất trí hành vi phạm tội của các bị cáo phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” như cáo trạng và lời luận tội Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo L1 mức án nhẹ nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát; xử phạt bị cáo T2 18 - 24 tháng tù vì bị cáo T2 hoàn cảnh gia đình chịu nhiều thiệt thòi, hành vi không đáng kể.

Các bị cáo, đại diện hợp pháp của các bị cáo nhất trí với lời bào chữa và ý kiến tranh luận của người bào chữa.

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm luận tội, xác định bị cáo T2 giữ vai trò khởi xướng nên cần có mức án phù hợp đối với bị cáo.

Các Bị cáo nói lời sau cùng ăn năn hối hận vì hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử cho được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan toàn bộ các chứng cứ, ý kiến đề nghị của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo; bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan người làm chứng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

[2]. Xét về tính chất, hành vi của các bị cáo thấy rằng:

Lời khai nhận tội của các các bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với đơn trình báo, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản đọc video clip, lời khai người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng kết luận định giá và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án có căn cứ xác định:

Do có mâu thuẫn với nhóm của Dương Đình T3, Dương Đình T9 nên khoảng 11 giờ 00 phút ngày 06/12/2023, Nguyễn Anh T6 đã rủ La Đình T, La Đình T rủ Dương Xuân L1, Tô Vi Hoàng A3 và La Đình T2, La Đình T2 rủ thêm Nguyễn Bá Đ đuổi đánh Dương Đình T9 và Hoàng Minh H3 nhưng không kịp. Sau đó, Hoàng A3, L1 và T6 đã tìm và đánh gây thương tích vào vùng má của Dương Đình T3 tại khu vực xóm T Pháp, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi đánh T3 xong, T6, T, T2, L1, Hoàng A3, Đ tiếp tục chuẩn bị hung khí là 02 túy sắt hình tròn dài khoảng 01 m đi tìm đánh T3. Khi đến khu vực cổng trường THPT Điềm Thụy huyện P thì gặp Nguyễn Văn M1 đang điều khiển xe máy chở T3 ngồi sau, cả nhóm đã đuổi theo xe của M1, T3. Quá trình đuổi theo nhóm của T6 phóng nhanh, lạng lách trên đường, khi đuổi được 1,3 km đến khu vực ngã ba N thuộc xã T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên thì L1 điều khiển xe mô tô áp sát xe của M1, Hoàng A3 ngồi sau dùng tuýt sắt vụt 2 – 3 phát vào người T3. Cả nhóm tiếp tục đuổi theo khoảng 50 m thì ép được xe của M1 dừng lại. L1 lấy tuýt sắt từ Hoàng A3 vụt T3 khoảng 10 cái trúng vào 2 tay và chân phải của T3, T6 dùng chân đá vào người T3, Đ dùng xe lao vào chân của T3. T3 bị tổn thương cơ thể 06%.

Hành vi của Nguyễn Anh T6, La Đình T, La Đình T2, Dương Xuân L1, Tô Vi H, Nguyễn Bá B đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: các bên đã tự thỏa thuận giải quyết xong và không có yêu cầu, đề nghị gì khác.

Hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Điều 318. Tội gây rối trật tự công cộng

1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội ..., thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

b) Dùng hung khí;”

Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ồn ào, mất trật tự, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn huyện P. Hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng, thể hiện sự coi thường pháp luật, vì vậy cần áp dụng hình phạt tương xứng để giáo dục riêng các bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Bị cáo La Đình T và La Đình T2 với vai trò là người khởi xướng, còn Dương Văn L3 và Tô Vi Hoàng A3 là người thực hành. HĐXX áp dụng Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật hình sự, để quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm.

[3] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo T, T2 và Hoàng A3 chưa có tiền án tiền sự, xác định là người có nhân thân tốt. Bị cáo L3 có tiền sự nên xác định là người có nhân thân xấu.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo La Đình T, La Đình T2, Dương Xuân L1, Tô Vi H được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm “Người phạm tội thành khẩn khai báo“ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo La Đình T, La Đình T2 có ông nội là La Đình L4 đã tham gia nhiều chiến dịch lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và là thương binh loại A; bị cáo Tô Vi Hoàng A3 có ông nội là Tô Như H6 được Nhà nước tặng Huy chương Kháng chiến Hạng Nhất vì đã có nhiều thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và ông ngoại là Vi Hồng T13 được Nhà nước tặng thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba và Huân chương kháng chiến hạng 2; bị cáo L1 có ông nội là Dương Xuân T14 được Nhà nước tặng Huy Chương Kháng chiến hạng Nhì nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo La Đình T, La Đình T2, Dương Xuân L1, Tô Vi Hoàng A3 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;

[4]. Về hình phạt: Sau khi xét hành vi, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo thì thấy rằng: Các bị cáo T2, L1, Hoàng A3 phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên xét xử theo nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội. Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo cần xử phạt các bị cáo mức án tương xứng, cách ly đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt và có ích cho xã hội.

Các bị cáo L1 và Hoàng A3 đã bồi thường thương tích cho Dương Đình T3, T3 không yêu cầu gì khác. Tại phiên toà anh T3 đề nghị HĐXX giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo nên cần ghi nhận.

[5]. Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp.

[6]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

  • Đối với 01 chiếc kiếm do La Đình T nhặt được để làm hung khí đánh nhau, Dương Đình T3 đã nhặt và vứt ở ruộng ngô tại khu vực cầu chui cao tốc thuộc phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thấy nên không thu hồi được.
  • Đối với 02 chiếc gậy tuýp sắt là hung khí Tô Vi Hoàng A3, Dương Xuân L1 và T cầm theo để đuổi đánh T3; T đã vứt ở lề đường thuộc xóm T, xã Đ đã truy tìm nhưng không thấy nên không thu hồi được.
  • Đối với xe mô tô của Nguyễn Bá Đ sử dụng khi thực hiện hành vi vi phạm là xe của anh trai Nguyễn Bá T8, sinh năm 2003, HKTT: xóm N, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. T8 đã bán xe cho một người lạ, không làm giấy tờ mua bán và không biết tên, tuổi, địa chỉ của người mua nên không thu hồi được.
  • Đối với xe mô tô của La Đình T2 sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội là xe của khách gửi tại nơi T2 làm việc. Tiệp không biết tên, tuổi, địa chỉ của chủ xe nên không thu hồi được.
  • Đối với các vật chứng còn lại:
    • 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Super CUB 50 màu xanh trắng, BKS: 20FB-6361, số máy: C50E-9766663; số khung: C50-9766596 đã qua sử dụng. Đây là phương tiện Nguyễn Văn M1 chở Dương Đình T3 khi bị các bị cáo đuổi đánh trên đường. Xe thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị T5, bà T5 không hề biết M1 lấy xe của bà để đi đuổi đánh nhau vì vậy trả lại cho bà T5 quản lý, sử dụng;
    • 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, gắn BKS: 20B2-097.50 đã qua sử dụng, số khung RLHJA3906HYG12156; số máy: JA39E0587301. Xe không có gương chiếu hậu hai bên, nhựa phía trên đèn hậu phía sau bị vỡ. Qua xác minh, đây là xe mô tô của ông Tô Trung K. Do ông K không biết việc Hoàng A3 lấy xe đi cùng bạn thực hiện hành vi phạm tội nên trả lại cho ông K quản lý và sử dụng.

    Tịch thu tiêu hủy đối với các vật chứng không có giá trị sử dụng như sau:

    • 01 (một) chiếc áo khoác màu đen đã qua sử dụng, cổ áo và ống tay áo, vạt áo phía dưới có may hai vòng màu vàng được niêm phong vào hộp giấy dán kín niêm phong ký hiệu “AT” của Nguyễn Anh T6. Đây là áo T6 mặc khi thực hiện hành vi vi phạm.
    • 01 (một) hộp giấy dán kín niêm phong ký hiệu “QAL” bên trong có:
      • 01 (một) chiếc áo khoác nỉ màu xanh, xám, trắng đã qua sử dụng, có mũ liền áo. Đây là áo của Dương Xuân L1 mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
      • 01 (một) chiếc quần bò màu xanh trắng, mặt trước quần bị rách đã qua sử dụng. Đây là quần của Dương Xuân L1 mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
    • 01 (một) chiếc chìa khóa làm bằng kim loại màu trắng bạc đã qua sử dụng, trên thân khóa có khắc “P022” được niêm phong vào bì thư dán kín, ký hiệu: “KA”. Đây là chìa khóa xe mô tô của T15; Dương Xuân L1 đã dùng chìa khóa này đánh gây thương tích ở má trái cho Dương Đình T3.
    • 01 (một) hộp giấy dán kín niêm phong, ký hiệu: “QAA” bên trong có:
      • 01 (một) chiếc áo khoác nỉ lông màu đen đã qua sử dụng, có các dòng chữ màu trắng trên áo “BALENCIAGA”. Đây là áo của Tô Vi Hoàng A3 mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
      • 01 (một) chiếc quần bò màu đen, mặt trước quần bị rách nhiều chỗ đã qua sử dụng. Đây là quần của Tô Vi Hoàng A3 mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
    • 01 (một) miếng bê tông kích thước dài 21,5cm, rộng trung bình 06cm, dày 02cm được niêm phong vào túi giấy ký hiệu BT. Do Nguyễn Anh T6 nhặt ở lề đường dùng để đuổi đánh Dương Đình T3 .

[7]. Về án phí, quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội miễn án phí cho các bị cáo T và T2 vì là hộ nghèo; bị cáo L1 và Hoàng A3 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho các bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[8]. Đối với hành vi của Dương Xuân L1, Tô Vi H, La Đình T, La Đình T2, Nguyễn Anh T6, Nguyễn Ba Đ2 cùng nhau tham gia đánh gây thương tích cho Dương Đình T3 đã cấu thành tội Cố ý gây thương tích quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự nhưng T3 không đề nghị xử lý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P không truy cứu hình sự về hành vi này và đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện P để xem xét, xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Đối với anh Nguyễn Bá T8 và ông Tô Trung K là người cho Nguyễn Bá Đ và Tô V1 Hoàng A3 mượn xe mô tô nhưng anh T8 và ông K không biết việc Đ và Hoàng A3 sử dụng xe mô tô cho việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P không xem xét xử lý đối với anh T8 và ông K.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về căn cứ áp dụng pháp luật:

  • Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với La Đình T.
  • Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; 38, Điều 58; Điều 90, 91, 98, 101 Bộ luật hình sự đối với La Đình T2; Dương Xuân L1 và Tô Vi Hoàng A3.

2. Về tội danh và hình phạt:

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo La Đình T, La Đình T2, Dương Xuân L1 và Tô Vi Hoàng A3 phạm tội phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt:

  • Bị cáo La Đình T 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 30/01/2024.
  • Bị cáo La Đình T2 28 (hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 30/01/2024.
  • Bị cáo Dương Xuân L1 25 (hai mươi năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 30/01/2024.
  • Bị cáo T15 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 30/01/2024.

Áp dụng Điều 329 của Bộ luật tố tụng Hình sự: Tạm giam các bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

3. Về vật chứng:

Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • Trả lại cho bà Nguyễn Thị T5 quản lý và sử dụng 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Super CUB 50, màu sơn: xanh, BKS: 20FB-6361, số máy: C50E9766663; số khung: C509766596, dung tích xi lanh: 49 cm³, ngày đăng ký: 02/12/1997, xe có 01 gương chiếu hậu bên trái, phần yếm phía trước bên trái có vết nứt đã cũ, khi giao nhận xe không kiểm tra tình trạng bên trong xe và săm lốp bên ngoài xe cũ đã qua sử dụng (Có 01 chìa khoá xe).
  • Trả lại cho ông Tô Trung K quản lý và sử dụng 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn: đen bạc, BKS: 20B2-097.50, số khung RLHJA3906HYG12156; số máy: JA39E058730, dung tích xi lanh: 109 cm³, ngày đăng ký: 03/7/2018, xe không có gương chiếu hậu hai bên, nhựa phía trên đèn hậu phía sau bị vỡ, khi giao nhận xe không có kiểm tra tình hình bên trong xe và săm lốp bên ngoài xe cũ đã qua sử dụng.
  • Tịch thu tiêu huỷ: 01 (Một) Hộp giấy niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu AT, bên trong có chứa 01 chiếc áo khoác màu đen đã qua sử dụng, cổ áo và ống tay áo, vạt áo phía dưới có may hai vòng màu vàng của Nguyễn Anh T6; 01 (Một) Hộp giấy niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu QAL bên trong có chứa 01 chiếc áo khoác nỉ màu xanh, xám, trắng đã qua sử dụng, có mũ liền áo và 01 chiếc quần bò màu xanh trắng, mặt trước quần bị rách đã qua sử dụng; 01 (Một) Bì thư niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu KA, bên trong có chứa 01 chiếc chìa khoá làm bằng kim loại màu trắng bạc đã qua sử dụng, trên thân khoá có khắc “P022”; 01 (Một) Hộp giấy niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu QAA bên trong có chứa 01 chiếc áo khoác nỉ lông màu đen đã qua sử dụng, có các dòng chữ màu trắng trên áo “BALENCIAGA” và 01 chiếc quần bò màu đen, mặt trước quần bị rách nhiều chỗ đã qua sử dụng; 01 (Một) Túi giấy niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu BT, bên trong có chứa 01 miếng bê tông kích thước dài 21,5cm, rộng trung bình 06cm, dày 02cm .

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra của Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân huyện Phú Bình).

2. Án phí:

Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc các bị cáo: Dương Xuân L1, Tô Vi H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước; La Đình T và La Đình T2 được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo:

Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo; người bào chữa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Thanh Nhàn

Nơi nhận:

  • Tòa án ND tỉnh Thái Nguyên;
  • Viện kiểm sát ND tỉnh Thái Nguyên;
  • Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • Viện kiểm sát ND huyện Phú Bình;
  • CC THADS huyện Phú Bình;
  • Công an huyện Phú Bình;
  • Bị cáo; Người liên quan;
  • Người bào chữa;
  • Đại diện hợp pháp cho bị hại;
  • Người bào vệ q&lợi ích hợp pháp cho bị hại;
  • Hồ sơ vụ án;
  • Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về gây rối trật tự công cộng (disturbing public order)

  • Số bản án: 40/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng (Disturbing public order)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger