|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 17 – 5 – 2024
V/v Ly hôn và nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vinh Thắng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sơn;
Bà Tăng Thị Bạch Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Trung-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lâm Bích Ngọc-Kiểm Sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 46/2024/TLST-HNGĐ, ngày 04 tháng 3 năm 2024, về việc Ly hôn và nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 08 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 102/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 24 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Trương Thị L, sinh ngày 16/11/1986
- - Bị đơn: Ông Võ Khắc T, sinh năm 1986
- Cùng địa chỉ: Ấp F, xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo Đơn khởi kiện ngày 22/02/2024 và các tài liệu chứng cứ khác trong quá trình giải quyết vụ án:
-Nguyên đơn bà Trương Thị L trình bày: Vào năm 2009, bà và ông Võ Khắc T quen biết nhau và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán ở địa phương. Ngày 28/6/2010, bà và ông T có đến Ủy ban nhân dân xã B đăng ký kết hôn, quá trình chung sống, vợ chồng có một đứa con chung tên là Võ Hoàng K sinh ngày 30/10/2009 hiện đang sống chung với ông T.
Vợ chồng có khoảng thời gian chung sống hạnh phúc với nhau, sau đó, có nhiều mâu thuẫn phát sinh, do ông T có quan hệ với người phụ nữ khác, nên bà và ông T đã ly hôn từ tháng 4 năm 2023 đến nay.
Nay bà nhận thấy cuộc sống chung của vợ chồng không thể nào kéo dài, mục đích sống chung không đạt được, không còn hạnh phúc như thời gian trước.
Bà L yêu cầu Tòa án Nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng giải quyết những vấn đề sau:
- - Về hôn nhân: Bà yêu cầu ly hôn với ông Võ Khắc T;
- - Về con chung: Bà đồng ý theo nguyện vọng của con chung, theo ai thì người đó nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng.
- - Về tài sản và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Võ Khắc T không tham gia tố tụng và không có ý kiến gì trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
*Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách cho rằng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với người tham gia tố tụng, nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn vắng mặt là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Tại phiên tòa, nguyên đơn không rút lại đơn khởi kiện, các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn ông Võ Khắc T, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt không rõ lý do; Nguyên đơn bà Trương Thị L vắng mặt, nhưng có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, cho nên, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị L và ông Võ Khắc T tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng ngày 28/6/2010, nên quan hệ hôn nhân của ông, bà là hợp pháp.
[3] Xét về tình trạng hôn nhân, thấy rằng: Quan hệ hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của hai bên. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng bà L, ông T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn trong cuộc sống, do ông T có quan hệ với người phụ nữ khác, nên hai người đã sông ly thân từ tháng 4/2023, đến thời điểm này, cả bà L và ông T cũng không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng mà vẫn tiếp tục sống ly thân và bỏ mặc nhau. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L đối với ông T.
[4] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà L và ông T 01 người con chung là Võ Hoàng K sinh ngày 30/10/2009, hiện nay đang sống chung với ông T.
[5] Theo quy định tại khoản 1 Điều 71, khoản 1 và khoản 2 Điều 81, các điều 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: Cha và mẹ đều có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên. Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Nếu không thỏa thuận được người trực tiếp nuôi con thì căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, Tòa án quyết định giao cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi dưỡng cũng có quyền thăm nom con sau khi ly hôn.
[6] Xét thấy, cháu K có nguyện vọng sống với cha, người con chung này từ nhỏ đã được người cha chăm sóc nuôi dưỡng tốt, cho nên phải giao cho người cha trực tiếp nuôi dưỡng là hợp lý, tránh thay đổi môi trường sống ổn định của trẻ nhỏ, cũng phù hợp với yêu cầu của bà L. Nếu sau này người cha nuôi dưỡng không tốt thì người mẹ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L, giao cháu K cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Dành quyền trông nom, chăm sóc, giáo người con chung này cho bà L, không ai được ngăn cản.
[7] Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[8] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[9] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bà L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.
[10] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định và phân tích nêu trên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị L được ly hôn với ông Võ Khắc T.
- Về con chung: Giao cho ông T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Võ Hoàng K sinh ngày 30/10/2009, đến đủ 18 tuổi; bà L được quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục người con chung này, không ai được ngăn cản.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà L phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003603, ngày 04/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà L đã nộp xong án phí sơ thẩm.
- Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm, đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn này tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Vinh Thắng |
Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 40/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn và nuôi con
