TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2025/HNGĐ-ST Ngày: 17-02-2025 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Hồng Phương
Ông Hoàng Văn Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 297/2024/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 311/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/12/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2025/QÐST-HNGĐ ngày 16/01/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Đồng Xuân S, sinh năm 1969 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Bị đơn: Chị Đồng Thị H, sinh năm 1971 (vắng mặt)
Nơi cư trú và địa chỉ cuối cùng của chị H tại Việt Nam: Thôn H, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
(Hiện chị H đang lao động tại nước ngoài, không rõ địa chỉ cụ thể).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn anh Đồng Xuân S trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Trước khi kết hôn anh và chị H được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương, có đăng ký kết hôn ngày 01/3/1990 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2010 chị H đi lao động tại nước ngoài, từ đó vợ chồng anh phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, mâu thuẫn ngày càng trở lên trầm trọng khiến vợ chồng anh không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên vợ chồng anh đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh ly hôn với chị Đồng Thị H.
Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung là Đồng Xuân T, sinh ngày 13/12/1991 và Đồng Xuân C, sinh ngày 12/3/2008. Hiện cháu T đã trưởng thành, khỏe mạnh và phát triển bình thường nên anh không yêu cầu Toà án giải quyết. Anh có nguyện vọng chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đồng Xuân C, sinh ngày 12/3/2008.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra anh S trình bày: Anh đề nghị vắng mặt trong các buổi làm việc mà Tòa án triệu tập, các phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án nói trên.
Chị Đồng Thị H là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Tại biên bản làm việc ngày 08/11/2024 và ngày 04/12/2024, bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1949 (là mẹ đẻ chị H), địa chỉ: Thôn H, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang cung cấp:
Chị H là con gái bà, hiện chị H đang lao động tại nước ngoài, chị H vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình qua mạng xã hội. Sau khi nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, bà đã thông báo cho chị H biết nhưng bà không biết địa chỉ của chị H để cung cấp cho Tòa án và chị H không gửi văn bản trình bày ý kiến về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang. Anh S và chị H kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng anh S và chị H chung sống hạnh phúc đến năm 2006-2007 chị H đi lao động tại nước ngoài, chị H có về nghỉ phép 1 lần. Do vợ chồng anh S, chị H không chung sống cùng nhau trong thời gian dài nên anh S làm đơn ly hôn. Gia đình bà đã động viên, hòa giải anh S và chị H nhưng không đạt kết quả, anh S vẫn kiên quyết làm đơn xin ly hôn với chị H. Anh S và chị H có 02 con chung là cháu Đồng Xuân T, sinh năm 1991 và Đồng Xuân C, sinh ngày 12/3/2008. Hiện cháu T đang đi lao động tại nước ngoài cùng với chị H, cháu C đang sống cùng với anh S.
Cháu Đồng Xuân C trình bày: Cháu là con bố Đồng Xuân S và mẹ Đồng Thị H, hiện cháu sống cùng bố S. Nay bố mẹ cháu ly hôn cháu có nguyện vọng được ở với bố S.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Anh Đồng Xuân S vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị Đồng Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.
Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của anh Đồng Xuân S, biên bản lấy lời khai cháu Đồng Xuân C, biên bản làm việc với bà Nguyễn Thị P và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn anh Đồng Xuân S có đơn xin xét xử vắng mặt, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chị Đồng Thị H không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với bị đơn. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt anh S, chị H là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đồng Xuân S
Về hôn nhân: Cho anh Đồng Xuân S được ly hôn chị Đồng Thị H.
Về nuôi con chung: Giao cháu Đồng Xuân C, sinh ngày 12/3/2008 cho anh Đồng Xuân S nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn chị Đông Thị H1 không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở chị H1 thực hiện quyền này.
Về án phí: Anh Đồng Xuân S phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí anh S đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thẩm quyền giải quyết, quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Đồng Xuân S khởi kiện xin ly hôn chị Đồng Thị H và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Chị H hiện đang ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể của chị H. Theo Công văn số: 27928/QLXNC-P3 ngày 25/11/2024 của Cục Q - Bộ C1 cung cấp, chị H đã 03 lần xuất nhập cảnh, lần gần nhất nhập cảnh là ngày 05/5/2018 và xuất cảnh ngày 14/5/2018, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vụ án có bị đơn chị H hiện nay đang ở nước ngoài. Địa chỉ cuối cùng của chị H ở Việt Nam tại: Thôn H, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2].Về việc vắng mặt của đương sự:
Đối với nguyên đơn anh Đồng Xuân S có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Đồng Xuân S.
Đối với bị đơn chị Đồng Thị H: Căn cứ theo lời khai của nguyên đơn anh S, bà P (là mẹ chị H), Hội đồng xét xử xác định nơi cư trú cuối cùng của chị H trước khi xuất cảnh ở thôn H, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án cho chị H thông qua người thân của chị H là bà Nguyễn Thị P và đề nghị bà P thông báo cho chị H biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý, giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa nguyên đơn là anh Đồng Xuân S và bị đơn là chị Đồng Thị H. Bà P cho biết sau khi chị H đi nước ngoài thì chị H vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình nhưng chị H không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ của chị H ở nước ngoài. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Đồng Xuân S và chị Đồng Thị H kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 01/3/1990 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng anh S, chị H chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2010 chị H đi lao động tại nước ngoài, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, anh S xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho anh được ly hôn chị Đồng Thị H.
Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Đồng Xuân S đối với chị Đồng Thị H. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn anh S và chị H chung sống với nhau hạnh phúc, đến năm 2010 chị H đi lao động tại nước ngoài, trong thời gian chị H ở nước ngoài vợ chồng vẫn liên lạc với nhau nhưng xảy ra nhiều mâu thuẫn, một phần là do vợ chồng không chung sống trong thời gian dài nên không còn tình cảm với nhau nữa. Năm 2018 chị H về nước nghỉ phép sau đó tiếp tục đi lao động tại nước ngoài, vợ chồng không hàn gắn được tình cảm. Gia đình hai bên đã tiến hành động viên, khuyên bảo anh S và chị H để hàn gắn tình cảm nhưng không đạt kết quả. Do đó, Hội đồng xét xử xác định vợ chồng anh S, chị H không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh S đối với chị H, xử cho anh Đồng Xuân S được ly hôn chị Đồng Thị H như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.
[4]. Về nuôi con chung: Anh S và chị H có 02 con chung là Đồng Xuân T, sinh năm 1991 và cháu Đồng Xuân C, sinh ngày 12/3/2008. Do cháu T đã trưởng thành, cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường nên anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn anh S đề nghị giao cháu C cho anh S nuôi dưỡng. Cháu C trên 7 tuổi có nguyện vọng ở cùng anh S nếu bố mẹ ly hôn.
Xét yêu cầu của anh S, Hội đồng xét xử thấy: Hiện cháu T đã trưởng thành, cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết; Đối với cháu Đồng Xuân C hiện đang sống cùng với anh S, cháu phát triển bình thường cả về thể chất lẫn tinh thần, chị H hiện đang lao động tại nước ngoài nên không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Cháu C có nguyện vọng được sống cùng với anh S. Để đảm bảo cho con chung phát triển bình thường, tránh xáo trộn về cuộc sống, môi trường học tập của con chung. Nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của anh S. Giao cháu Đồng Xuân C, sinh ngày 12/3/2008 cho anh Đồng Xuân S nuôi dưỡng sau khi ly hôn đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật là phù hợp quy định pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của cháu C như đề nghị của đại diện diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.
Sau khi ly hôn chị Đồng Thị H không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở chị H thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Trường hợp chị Đồng Thị H về nước có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[5].Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6].Về tài sản, công nợ chung: Anh S, chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7].Về án phí: Anh Đồng Xuân S phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
[8]. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn anh Đồng Xuân S đang ở trong nước vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn chị Đồng Thị H đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đồng Xuân S.
- Về hôn nhân: Anh Đồng Xuân S được ly hôn chị Đồng Thị H.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Đồng Xuân C, sinh ngày 12/3/2008 cho anh Đồng Xuân S nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn chị Đồng Thị H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở chị H thực hiện quyền này.
- Về án phí: Anh Đồng Xuân S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000160 ngày 04/11/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh Đồng Xuân S đã nộp xong án phí sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo bản án:
Anh Đồng Xuân S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Chị Đồng Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ nhận được tống đạt bản án hoặc ản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ky) Hoàng Thị Thu Hiền |
Bản án số 40/2025/HNGĐ-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 40/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung giữa anh S và chị H
