Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/HS-ST

Ngày 16 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Toản;
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thân và ông Dương Đình Rồng.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Bằng Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Minh - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vương Đình T - Sinh ngày 12/3/1980, tại tỉnh Hải Dương. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn A, xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Vương Đình T1 (đã chết) và bà Đỗ Thị T2 – Sinh năm: 1956, gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; có vợ là: Nguyễn Thị Minh N - Sinh năm 1979 (Đã ly hôn); có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2008.

  • - Tiền án: Có 01: Ngày 17/9/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xử phạt 10 tháng tù giam về tội: Trộm cắp tài sản, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/4/2022 (Đến nay chưa được xóa án tích).
  • - Tiền sự: Không có.
  • - Nhân thân:
  • + Bản án số 118/2014/HSST ngày 29/9/2014 của Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Chấp hành xong ngày 11/02/2016.
  • + Bản án số 32/2017/HSST ngày 16/6/2017 của Toà án nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương xử phạt 15 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong ngày 28/4/2020.
  • + Bản án số 44/2017/HSST ngày 12/7/2017 của Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử phạt 24 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong ngày 28/4/2020.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/01/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên toà)

  • - Người bào chữa cho bị cáo Vương Đình T: Bà Nguyễn Thị D – Sinh năm: 1972 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T.

(Bà D có mặt tại phiên tòa).

  • - Bị hại: Anh Dương Minh H - Sinh năm: 1997;

Nơi cư trú: Xóm T, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Mạnh H1 - Sinh năm 1982;

Nơi cư trú: Cụm D, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

(Có mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08h00' ngày 16/01/2024, Vương Đình T (là người có tiền án về tội: Trộm cắp tài sản và chưa được xoá án tích) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, Biển kiểm soát (BKS) 99F9 - 0844 đi từ nhà ở thôn A, xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương đến tỉnh Thái Nguyên để mua gom cây chè mang về tỉnh Hải Dương bán kiếm lời. Khoảng 13h40' cùng ngày, T đi đến khu vực Tổ P, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, thấy quán cắt tóc “M” của anh Dương Minh H đang mở cửa, quan sát thấy quán không có người trông coi nên T nảy sinh ý định vào quán của anh H trộm cắp tài sản.Tưởng đỗ xe ở ngoài đường và đi bộ vào trong quán thì nhìn thấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu gold, ốp lưng màu xanh để trên chiếc loa màu đen cạnh ghế sofa sát tường, quan sát xung quanh xác định không có người nên T dùng tay phải cầm chiếc điện thoại Iphone 6 Plus màu gold, ốp lưng màu xanhcất giấu vào túi quần phía sau bên phải đang mặc đi ra khỏi quán. Khi vừa ra đến cửa quán thì gặp anh H, T ra chỗ để xe mô tô ngồi lên xe nổ máy định bỏ chạy thì bị anh H dùng tay cầm vào đuôi xe kéo lại và dùng tay phải giằng lại chiếc điện thoại Iphone 6 Plus màu gold, ốp lưng màu xanh Tưởng đang cầm trên tay phải, bị anh H phát hiện và tri hô nên T bỏ xe chạy ra hướng đường Q thì bị người dân đuổi theo giữ lại, đồng thời anh H trình báo Công an phường L, thành phố S đến lập biên bản sự việc và thu giữ những đồ vật, tài sản Vương Đình T gồm: 01 ví da màu đen bên trong có số tiền 2.024.500 đồng ; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 Plus bên trong có chứa một thẻ sim số thuê bao 0985899962; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha có gắn BKS99F9 - 0844; 01 căn cước công dân số [...] mang tên Vũ Văn T3 do Cục CSQLHC về TTXH cấp ngày 14/8/2021; 01 căn cước công dân số [...] mang tên Vương Đình T do Cục CSQLHC về TTXH cấp ngày 10/6/2021; 02 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Vương Đình T; 01 đăng ký mô tô, xe máy số 0068757 mang tên Trần Văn C; 01 đăng kí mô tô, xe máy số 0024442 mang tên Vũ Trí T4; 01 thẻ nhớ nhãn hiệu CK micro SDHC dung lượng 8GB, 01 thẻ nhãn hiệu micro SDHC dung lượng 4BG CO4G TAIWAN, 01 thẻ nhãn hiệu Transcond micro SDHC dung lượng 8GB; 01 thẻ ngân hàng V mang tên Vương Đình T, 01 thẻ sim Viettel 4G, 01 thẻ sim Vietnam mobile số. Anh Dương Minh H giao nộp 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6 Plus màu gold, có ốp màu xanh (là điện thoại mà Vương Đình T vừa trộm cắp).

Cùng ngày Công an phường L thu giữ 01 đoạn video chứa dữ liệu hình ảnh ghi lại nội dung sự việc ngày 16/01/2024 tại quán cắt tóc của anh Dương Minh H đồng thời chuyển hồ sơ vụ án và Vương Đình T đến Cơ quan điều tra Công an thành phố S giải quyết theo thẩm quyền.

Cơ quan điều tra Công an thành phố S kiểm tra hình ảnh camera phù hợp với nội dung diễn biến sự việc ngày 16/01/2024, Vương Đình T xác nhận là đúng với hành vi phạm tội và Cơ quan điều tra sao lưu vào đĩa CD đưa vào hồ sơ vụ án.

Cơ quan CSĐT Công an thành phố S tiến hành trưng cầu giám định tài sản là 01 chiếc điện thoại Iphone 6 Plus, màu gold, bản quốc tế dung lượng 64Gb và 01 chiếc ốp lưng nhựa màu xanh. Tại kết luận định giá tài sản số: 03/KL-HĐĐGTS ngày 17/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố S xác định: Giá trị của 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu gold, bản quốc tế dung lượng 64GB, đã qua sử dụng trị giá 1.400.000 đồng; 01 chiếc ốp lưng nhựa màu xanh, đã qua sử dụng trị giá 5.000 đồng. Tổng giá trị của các tài sản trên là 1.405.000 đồng (Một triệu bốn trăm linh năm nghìn đồng).

Quá trình điều tra, bị cáo Vương Đình T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Dương Minh H đã nhận lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu gold, ốp lưng nhựa màu xanh. Ngoài ra, anh Nguyễn Mạnh H1 là em rể bị cáo đã bồi thường về tổn thất tinh thần cho cho anh H số tiền là 2.000.000 đồng. Anh H đã nhận số tiền trên, không có yêu cầu gì đối với bị cáo và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại bản Cáo trạng số 30/CT - VKS ngày 01/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Vương Đình T về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo Vương Đình T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, bị cáo xác định việc truy tố, xét xử bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản”, là đúng người, đúng tội, không oan.
  • - Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

Tuyên bố:

Bị cáo Vương Đình T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”; áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của BLHS, xử phạt bị cáo T từ 15 - 18 tháng tù.

  • - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
  • - Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của BLTTHS: Trả lại cho bị cáo các tài sản đã bị tạm giữ (Ví da, căn cước công dân, thẻ ngân hàng, đăng ký mô tô xe máy, thẻ bảo hiểm y tế, sim điện thoại, thẻ nhớ, điện thoại và số tiền 2.024.500 đồng); tịch thu sung quỹ nhà nước chiếc xe mô tô BKS 99F9 - 0844.
  • - Về án phí: Bị cáo Tưởng gia đình thuộc hộ cận nghèo, miễn nộp án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định.

Bị cáo Vương Đình T không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì về hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc truy tố là không oan, đúng người, đúng tội.

Người bào chữa cho bị cáo Vương Đình T có ý kiến bào chữa được tóm tắt như sau: Nhất trí với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo T, xác định việc truy tố, xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan. Đề nghị xem xét hoàn cảnh gia đình bị cáo (Bị cáo đã ly hôn vợ, hiện phải nuôi mẹ già và con nhỏ ...) và trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt không lớn, đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo từ 12 – 15 tháng tù là phù hợp.

Bị cáo nhất trí ý kiến bào chữa nêu trên, không bổ sung gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (Anh Nguyễn Mạnh H1 ) có ý kiến: Không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền mà anh đã tự nguyện giúp bị cáo bồi thường cho anh Dương Minh H.

Khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, tự nguyện nên có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận, vì đã phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử kết luận:

Sáng ngày 16/01/2023, bị cáo Vương Đình T điều khiển xe mô tô BKS 99F9 – 0844 đi từ nhà lên tỉnh Thái Nguyên với mục đích để mua gom cây chè mang về bán kiếm lời. Khoảng 13 giờ 40 cùng ngày khi đi đến quán cắt tóc của anh Dương Minh H, có địa chỉ tại Tổ P, phường L, thành phố S, bị cáo đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, có ốp lưng màu xanh có tổng giá trị là 1.405.000 đồng. Tuy giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng, nhưng xét bản thân bị cáo đã có tiền án về tội: “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích theo quy định, nay lại tiếp tục phạm tội có cùng tính chất. Hành vi đó của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm: “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của BLHS. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Nội dung điều luật quy định như sau:

Điều 173 BLHS. Tội trộm cắp tài sản.

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

b) Đã bị kết án về tội này ...... chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

...

[3] Đánh giá về tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Vương Đình T:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ của tội phạm là ít nghiêm trọng, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự ở địa phương. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý theo quy định pháp luật nhằm tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, sau khi phạm tôi, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho anh H một khoản tiền, ngoài ra anh H có đơn xin giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS.
  • - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của BLHS.

Xét nhân thân, thấy bị cáo đã bị xử phạt tù nhiều lần về các hành vi khác nhau trong đó có tội phạm có cùng tính chất, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm cho bản thân, lao động, làm ăn lương thiện mà tiếp tục lao vào con đường phạm tội, điều đó thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu và coi thường pháp luật. Vì vậy, dù có giảm nhẹ phần nào về hình phạt, nhưng căn cứ nhân thân cũng như tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết xét xử bị cáo bằng hình phạt tù, buộc phải cách ly xã hội một thời gian phù hợp mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của BLHS thì người phạm tội còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là bị phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thấy bị cáo là lao động động tự do thu nhập không ổn định, gia đình thuộc diện hộ cận nghèo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5]Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, có ốp lưng màu xanh, tài sản đã được thu hồi. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã trả lại toàn bộ các tài sản trên cho anh H, anh H đã nhận lại đầy đủ và không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Về số tiền 2.000.000 đồng mà anh Nguyễn Mạnh H1 là em rể của bị cáo đã bồi thường cho anh H về tổn thất tinh thần thay cho bị cáo, tại phiên tòa anh H1 không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền nêu trên, nên Hội đồng xét xử cũng không đặt ra xem xét giải quyết.

[6]Về xử lý vật chứng vụ án:

  • - Đối với 01 đăng ký xe mô tô mang tên Vũ Trí T4 và 01 CCCD mag tên Vũ Văn T3 cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T3 quản lý sử dụng.
  • - Đối với các tâì sản gồm: Ví da, căn cước công dân, thẻ ngân hàng, đăng ký mô tô xe máy, thẻ bảo hiểm y tế, sim điện thoại, thẻ nhớ, điện thoại, xe mô tô và số tiền 2.024.500 đồng, xét thấy đây là các tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo và không liên quan gì đến hành vi phạm tội, cần áp dụng Điều 106 của BLTTHS trả lại các tài sản trên cho bị cáo.

[7]Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo, như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính đối với bị cáo, về đề nghị xử lý các vật chứng gồm: Ví da, căn cước công dân, thẻ ngân hàng, đăng ký mô tô xe máy, thẻ bảo hiểm y tế, sim điện thoại, thẻ nhớ, điện thoại và số tiền 2.024.000 đồng... là phù hợp với các quy định của pháp luật cần được chấp nhận. Tuy nhiên, về đề nghị xử lý chiếc xe mô tô BKS 99F9 - 0844, xét thấy bị cáo không sử dụng chiếc xe mô tô này vào việc phạm tội, nên không có căn cứ tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận như đã phân tích nêu trên. Về ý kiến của người bào chữa cho bị cáo như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, múc hình hình phạt chính đối với bị cáo...là phù hợp các quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[8] Cần áp dụng Điều 329 của BLTTHS ra quyết định tạm giam bị cáo Vương Đình T với thời hạn 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

[9] Về án phí: Gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo, do đó cần áp dụng Điều 12 và 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, miễn nộp án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định.

[10].Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong hạn Luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vương Đình T;
  • - Điều 106, Điều 136 và Điều 329, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Vương Đình T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt chính:

Xử phạt bị cáo Vương Đình T 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bị bắt tạm giam ngày 19/01/2024.

3.

Ra Quyết định tạm giam bị cáo Vương Đình T với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

4.Về hình phạt bổ sung:

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định khoản 5 Điều 173 của BLHS.

5. Về trách nhiệm dân sự:

Không đặt ra xem xét, giải quyết.

6.Về xử lý vật chứng vụ án:

Trả lại cho bị cáo các tài sản sau đây:

  • - 01 chiếc ví da màu nâu, 01 Căn cước công dân mang tên Vương Đình T, 01 thẻ ngân hàng V mang tên Vương Đình T, 01 đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Trần Văn C, 02 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Vương Đình T, 02 sim điện thoại, 03 thẻ nhớ, được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu A;
  • - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen bên trong gắn sim số 0985.899.962, được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu B;
  • - 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, BKS 99F9 - 0844, số khung 5SD145711, số máy 5SD145711, xe cũ đã qua sử dụng (Xe không có chìa khóa).
  • - Số tiền 2.024.500 đồng (Hai triệu không trăm hai mươi tư nghìn năm trăm đồng)

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra của Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên và Giấy nộp tiền số 10248665 ngày 02/4/2024 tại Ngân hàng TMCP C1 - Chi nhánh N1 vào tài khoản số 39490.1007371.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công).

7.Về án phí:

Miễn nộp án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vương Đình T theo quy định pháp luật.

8.Thông báo quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

  • - Bị hại (Anh Dương Minh H) có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (Anh Nguyễn Mạnh H1) có quyền kháng cáo phần Bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • -TAND, VKSND tỉnh Thái nguyên;
  • - VKSND, THADS TP. Sông Công;
  • - Công an TP. Sông Công;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Người có QLNVLQ đến vụ án;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Toản

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 40/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vương Đình T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. 2. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Vương Đình T 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bị bắt tạm giam ngày 19/01/2024. 3. Ra Quyết định tạm giam bị cáo Vương Đình T với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger