|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN TỈNH THANH HÓA
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 40/2024/HS-ST
Ngày 16/5/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Công
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sâm
Ông Lê Đăng Thiện
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Hân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Tân - Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số : 43/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024;
Đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh ngày 20/5/1990 tại: Xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn H, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn H1; con bà Lê Thị P; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con đầu; có vợ là Hoàng Thị Y, sinh năm 1991; có 01 con sinh năm 2014. Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 10/5/2017 bị Công an huyện T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2024 đến nay. Có mặt.
-
Họ và tên: Trịnh Công C, sinh ngày 10/5/1988 tại: Xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trịnh Xuân T; con bà Nguyễn Thị T1; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con đầu; có vợ là Lê Thị T2, sinh năm 1989; có 01 con sinh năm 2010. Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2024 đến nay. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Lê Thị T2, sinh năm 1989, trú tại: Thôn H, xã T, huyện T, Thanh Hóa. Có mặt.
- Anh Lê Văn H2, sinh năm 1975, trú tại: Thôn T, xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn P1, sinh năm 1971, trú tại: Thôn D, xã D, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1996, trú tại: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Anh Ngô Tiến D, sinh năm 1996; Vắng mặt.
- Anh Trịnh Xuân T4, sinh năm 1997; Có mặt.
- Anh Nguyễn Văn H3, sinh năm 1972; Vắng mặt.
- Anh Lê Tuấn A, sinh năm 1994, trú tại: Thôn T, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Chị Phạm Thị U, sinh năm 1973, trú tại: Thôn M, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Ông Lê Văn D1, sinh năm 1962, trú tại: Khu C, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 2000, trú tại: Khu phố G, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 2000, trú tại: Thôn D, xã D, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
Đều trú tại: Thôn H, xã T, huyện T, Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 07/01/2024, tại khu C, thị trấn L, huyện T, tổ công tác Công an thị trấn L, huyện T phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn H cất giấu 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 02 viên nén hình tròn, màu đỏ - hồng. H khai nhận 02 viên nén trên là ma túy (loại hồng phiến) cất giấu với mục đích sử dụng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ túi ma túy niêm phong trong phong bì ký hiệu M. Ngoài ra còn thu giữ của H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart lắp sim số 0932.338.258 (niêm phong ký hiệu T); 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA biển kiểm soát 36B3-594.54.
Về nguồn gốc và số tiền mua ma túy, H khai nhận do Nguyễn Văn L (sinh năm 2000 thường trú tại khu phố H, thị trấn L, huyện T) và Trịnh Công C góp tiền để nhờ H mua của Lê Văn H2 (sinh năm 1975 trú tại thôn T, xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa) mục đích sử dụng.
Ngày 08/01/2024, Trịnh Công C đã đến Công an thị trấn L xin đầu thú và giao nộp 01 điện thoại Iphone 11, bên trong gắn sim số: 0981.834.789; 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA Exciter, biển kiểm soát 36K5-298.33
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn H tại thôn H, xã X, huyện T, Cơ quan điều tra không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trịnh Công C tại thôn H, xã T, huyện T, Cơ quan điều tra thu giữ số tiền 435.000đ.
Ngày 09/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 70/QĐ-ĐCSMT, trưng cầu phòng PC09- Công an tỉnh T giám định chất ma túy thu giữ của Nguyễn Văn H.
Tại Kết luận giám định số: 159/PC09 ngày 12/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: 02 viên nén màu hồng của phong bì niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,212g loại: Methamphetmine.
Tại Cơ quan điều tra, các bị can khai nhận: Vào ngày 05/01/2024, H sử dụng số điện thoại 0932.338.xxx gọi vào số 0981.834.789 hỏi C "lâu nay có chơi ma túy không", C trả lời "lâu nay có đâu mà chơi". Lúc này, H nói "để từ từ xem có chỗ nào em lấy giúp cho" thì C đồng ý. Đến khoảng 14 giờ ngày 07/01/2024, Nguyễn Văn L dùng số điện thoại 0866.676.xxx gọi điện cho H nhờ mua hộ ma túy (loại hồng phiến) thì H đồng ý. Khoảng 14 giờ 40 phút cùng ngày, sau khi liên hệ được và có chỗ mua ma túy, H thông báo cho L biết, L nhờ H mua hộ 900.000 đồng. Sau đó, H gọi điện và thông báo cho C biết, C nhờ H mua hộ 500.000 đồng. Chính hẹn H đến dốc H thuộc thôn H, xã T, huyện T để lấy tiền. Sau đó, H điều khiển xe máy biển kiểm soát 36B3-594.54 đi đến dốc H. Cùng lúc này, Trịnh Công C điều khiển xe máy biển kiểm soát 36K5- 298.33 đến quán điện thoại nhà anh Nguyễn Văn T3 ở thôn H, xã T, huyện T vay của T3 500.000 đồng. Khi H đến quán điện thoại nhà T3 thì C đưa cho H 500.000 đồng để mua ma túy. Sau đó, H đi đến đường H gặp L và Ngô Tiến D (sinh năm 1996 trú tại thôn H, xã T, huyện T). Tại đây, L đưa cho H 900.000đ, L nói với H nếu mua được ma túy thì cho H 01 viên, H nói xe hết xăng thì L bảo lấy bớt tiền để đổ xăng. H vào cây xăng đổ hết 30.000 đồng rồi đi đến đầu đường bê tông lối vào cổng làng thôn L (thuộc xã T, huyện T) để đợi Lê Văn H2. Khoảng 20-30 phút sau, H2 điều khiển xe ôtô đến, mở cửa kính đưa cho H 01 túi nilong màu trắng, bên trong có 07 viên hồng phiến và nhận 1.370.000đ từ H.
Sau khi mua được ma túy, H điều khiển xe máy đi đến chỗ L và D đưa cho L 04 viên hồng phiến. Sau đó đến cầu B (thuộc xã X, huyện T) đưa cho C 01 túi nilon, bên trong có 02 viên hồng phiến, còn lại 01 viên hồng phiến L cho, H đi đến bãi mía xã T, huyện T sử dụng hết. Nguyễn Văn L sau khi mua được ma túy, L nhờ D chở về nhà tại khu phố G, thị trấn L, huyện T, sau đó L ra cánh đồng gần nhà, sử dụng hết số ma túy vừa mua được.
Khoảng 21 giờ ngày 07/01/2024, do cần tiền trả cho anh T3 để lấy điện thoại, C gọi điện cho H để trả lại ma túy, H đồng ý và hẹn C đến dốc Hữu Lễ. Tại đây, H đưa cho C 450.000đ, nợ lại 50.000đ, C đồng ý. Sau đó, C đi đến quán nhà anh T3 để trả tiền nhưng anh T3 đã đóng cửa quán nên không trả được, C đi về, trên đường đi C vào quán T7 đường mua 01 bao thuốc lá hết 15.000đ, còn lại 435.000₫ Chính cất ở giường ngủ của vợ chồng C. Đối với H, sau khi nhận lại 02 viên hồng phiến thì H đi đến khu C, thị trấn L, huyện T tìm nơi sử dụng thì bị Công an thị trấn L phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ số ma túy trên người.
Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ đoạn video ghi nhận nội dung hình ảnh C đưa tiền cho H tại quán điện thoại của anh Lê Văn T5 và trưng cầu phòng PC09- Công an tỉnh T giám định kỹ thuật số điện tử.
Tại Kết luận giám định số: 1202/PC09 ngày 26/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Không phát hiện dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 03 tệp video của 01 thẻ nhớ gửi giám định.
Đối với nội dung Nguyễn Văn H khai nhận nguồn gốc số ma túy mua của Lê Văn H2 vào ngày 07/01/2024. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tiến hành các biện pháp điều tra nhưng không đủ căn cứ để xử lý đối với Lê Văn H2 về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Vật chứng của vụ án:
- - Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì ký hiệu M và 0,165g chất bột màu hồng. Tất cả được đựng trong một phong bì mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, ký hiệu T2, được dán kín niêm phong bởi chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T6, Lưu Bình N, Trịnh Văn M và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T, số lượng: 01 cái.
- - 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen, số IMEI 1: 353279112576221; số IMEI 2: 353280112576229, gắn thẻ thuê bao sô: 0946.385.818, có dãy số trên thân sim: 89840200011163739137.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu V-Smart, màu đen, số IMEI: 366742102619902, gắn sim thuê bao số: 0932.338.258, có dãy số trên thân sim là: 8401220792112537.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đen, số IMEI 1: 350320740171895; số IMEI 2: 350320740171895; số IMEI 2: 350320740133572, gắn thẻ sim thuê bao số: 0981.834.789, trên thân sim có dãy số: 8984048000903308824.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu trắng bạc, số IMEI 1: 357451094363136, gắn thẻ sim thuê bao số: 0856.212.203.
- - 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha màu đen – trắng, biển kiểm soát 36B3-594.54.
- - 01 túi nilon ký hiệu T1 được đóng gói, niêm phong.
- - số tiền 435.000 đồng.
Hiện đang được quản lý theo quy định.
Tại bản cáo trạng số 43/CT-VKSTX ngày 17/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố: Các bị cáo Nguyễn Văn H và Trịnh Công C về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã nêu và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H, Trịnh Công C phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Về hình phạt đề nghị:
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 249; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn H, Trịnh Công C. Riêng bị cáo C áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 17 (mười bảy) tháng tù đến 19 (mười chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/01/2024.
+ Xử phạt bị cáo Trịnh Công C từ 14 (mười bốn) tháng tù đến 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/01/2024.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng như sau:
Tịch thu, tiêu hủy:
- - Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì ký hiệu M và 0,165g chất bột màu hồng. Tất cả được đựng trong một phong bì mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, ký hiệu T2
- - 01 túi nilon ký hiệu T1 được đóng gói, niêm phong.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đen thu giữ của C.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu V-Smart, màu đen thu giữ của H.
- - Số tiền 435.000 đồng.
Trả lại:
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu trắng bạc, số IMEI 1: 357451094363136, gắn thẻ sim thuê bao số: 0856.212.203 cho anh Lê Văn H2.
- - 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha màu đen – trắng, biển kiểm soát 36B3-594.54 cho anh Nguyễn Văn P1.
- - 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen cho chị Lê Thị T2.
Truy thu sung quỹ Nhà nước của bị cáo H số tiền 50.000 đ, của bị cáo C số tiền 15.000 đ.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chị án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; Kết luận giám định, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:
Ngày 07/01/2024, Nguyễn Văn H, Trịnh Công C đã có hành vi Tàng trữ trái phép 0,212g ma túy, loại Methamphetamne để sử dụng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với hành vi đã gây ra.
Các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Do đó, hành vi của các bị cáo đã đủ cấu thành tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng.
[4] Xét vị trí, vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự bàn bạc phân công vai trò cụ thể khi thực hiện hành vi phạm tội, hành vi của các bị cáo chỉ là bột phát nên không xem là phạm tội có tổ chức. Xét vai trò, tính chất và mức độ của từng bị cáo khi thực hiện hành vi để quyết định hình phạt đối với từng bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo H là người gợi ý đi mua ma túy hộ cho C, đồng thời là người thực hành tích cực, trực tiếp nhận tiền, trực tiếp đi mua ma túy và hưởng lợi từ việc mua ma túy hộ do đó bị cáo H xếp vai trò cao hơn và phải chịu hình phạt nặng hơn bị cáo C.
[5] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo C là người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội; bị cáo H có 01 nhân thân: Năm 2017 bị xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo C sau khi phạm tội đã tự nguyện ra đầu thú nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ những nhận xét, đánh giá trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tội phạm ma túy đang có diễn biễn phức tạp và chiều hướng gia tăng. Ma túy đã gây tác hại to lớn đối với con người và cộng đồng, là nguyên nhân làm mất trật tự, an toàn xã hội, là nguồn gốc phát sinh các tệ nạn xã hội, gia tăng các loại tội phạm khác. Vì vậy, hình phạt đối với tội phạm về ma túy cần phải nghiêm khắc, mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này. Xét tội phạm mà các bị cáo đã thực hiện là nghiêm trọng, cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, riêng bị cáo C có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên khi quyết định cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.
[6] Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét các bị cáo đều là lao động tự do, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng của vụ án:
Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì ký hiệu M và 0,165g chất bột màu hồng. Tất cả được đựng trong một phong bì mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, ký hiệu T2 và 01 túi nilon ký hiệu T1 được đóng gói, niêm phong. Đây xác định là công cụ phạm tội hoặc đồ vật có liên quan đến vụ án, vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, hiện không còn giá trị nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đen thu giữ của C, 01 điện thoại di động nhãn hiệu V-Smart, màu đen thu giữ của H và Số tiền 435.000 đồng là công cụ phạm tội hoặc tiền, đồ vật có liên quan đến vụ án, đang còn giá trị nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu trắng bạc, số IMEI 1: 357451094363136, gắn thẻ sim thuê bao số: 0856.212.203; 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha màu đen – trắng, biển kiểm soát 36B3-594.54; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen là các đồ vật không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo hoặc các chủ sở hữu không biết các bị cáo sử dụng để thực hiện tội phạm nên trả lại cho các chủ sở hữu là phù hợp.
Toàn bộ số tang vật trên hiện đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân theo đúng quy định của pháp luật.
Đối với số tiền 50.000 đ bị cáo H đang còn nợ bị cáo C và số tiền 15.000 đ bị cáo C đã dùng tiêu xài cá nhân (mua thuốc lá) là tiền nằm trong số tiền 500.000 đ C đã dùng để nhờ H đi mua hộ ma túy. Vì vậy cần truy thu của các bị cáo để sung quỹ Nhà nước.
[8] Về các tình tiết liên quan đến vụ án:
Đối với nội dung Nguyễn Văn H khai nhận nguồn gốc số ma túy mua của Lê Văn H2 vào ngày 07/01/2024. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tiến hành các biện pháp điều tra nhưng không đủ căn cứ nên không xử lý đối với Nguyễn Văn H4 về hành vi mua bán trái phép chất ma túy là phù hợp.
Đối với anh Nguyễn Văn T3 cho C vay 500.000đ và Ngô Tiến D là người chở L ra đường H gặp H nhờ mua ma túy, không biết H và L giao dịch ma túy nên không có căn cứ để xử lý. Đối với số tiền 500.000 đ đã cho vay, anh T3 chưa có yêu cầu bị cáo phải trả ngay, khi nào bị cáo có trả cho anh cũng được, nên nếu có tranh chấp về số tiền này thì dành quyền khởi kiện cho anh T3 bằng một vụ án dân sự khác.
Đối với xe máy nhãn hiệu YAMAHA, biển kiểm soát 36K5-298.33 là của anh Trịnh Xuân T4 (sinh năm 1997 trú tại thôn H, xã T, huyện T – là em trai Trịnh Công C). Vào ngày 05/01/2024 anh T4 có cho C mượn chiếc xe máy trên để làm phương tiện đi lại, không biết C sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Trịnh Xuân T4 là phù hợp.
Đối với anh Nguyễn Văn L1 (sinh năm 2000 trú tại thôn D, xã D, huyện T): Vào đầu tháng 01/2024 anh L1 có cho Nguyễn Văn H mượn chiếc xe máy biển kiểm soát 36B3-594.54 để làm phương tiện đi lại (đây là chiếc xe của ông Nguyễn Văn P1 – là bố đẻ của L1). Việc H sử dụng chiếc xe làm phương tiện đi mua hộ ma túy, anh L1 và ông P1 không biết. Vì vậy, không có căn cứ để xử lý đối với L1, P1.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 249; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn H, Trịnh Công C. Riêng bị cáo C áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn H, Trịnh Công C phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 18 (mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/01/2024.
- - Xử phạt bị cáo Trịnh Công C 14 (mười bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/01/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
- * Tịch thu, tiêu hủy:
- - Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì ký hiệu M và 0,165g chất bột màu hồng. Tất cả được đựng trong một phong bì mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, ký hiệu T2, được dán kín niêm phong bởi chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T6, Lưu Bình N, Trịnh Văn M và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T,
- - 01 túi nilon ký hiệu T1 được đóng gói, niêm phong.
- * Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu V-Smart, màu đen, số IMEI: 366742102619902, gắn sim thuê bao số: 0932.338.258, có dãy số trên thân sim là: 8401220792112537.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đen, số IMEI 1: 350320740171895; số IMEI 2: 350320740171895; số IMEI 2: 350320740133572, gắn thẻ sim thuê bao số: 0981.834.789, trên thân sim có dãy số: 8984048000903308824.
- - số tiền 435.000 đ (bốn trăm ba mươi lăm nghìn đồng).
- * Trả lại:
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu trắng bạc, số IMEI 1: 357451094363136, gắn thẻ sim thuê bao số: 0856.212.203 cho anh Lê Văn H2.
- - 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại SIRIUS, màu đen – trắng, biển kiểm soát 36B3-594.54, số máy: 1FC1061748; số khung RLCS5C6K0DY061724 cho anh Nguyễn Văn P1.
- - 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen, số IMEI 1: 353279112576221; số IMEI 2: 353280112576229, gắn thẻ thuê bao sô: 0946.385.818, có dãy số trên thân sim: 89840200011163739137 cho chị Lê Thị T2.
Toàn bộ vật chứng hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân, theo biên bản giao nhận vật chứng số 62 ngày 06/5/2024.
Truy thu của bị cáo Nguyễn Văn H số tiền 50.000 đ (năm mươi nghìn đồng) sung quỹ Nhà nước.
Truy thu của bị cáo Trịnh Công C số tiền 15.000 đ (mười lăm nghìn đồng) sung quỹ Nhà nước.
- Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn H, Trịnh Công C mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Ngọc Công |
Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 40/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: gbsd
