Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NAM ĐÀN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/HSST

Ngày: 16/05/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Minh

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hoàng Đăng Lợi
  2. Ông Nguyễn Như Khôi

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Văn Đình Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 05 năm 2024. Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An;

Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2024/HSST ngày 05 tháng 04 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 04 năm 2024 và quyết định hoãn phiên toà số 07/2024/HSST- QĐ ngày 26/4/2024 đối với các bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đình T; Tên gọi khác: Thực lơ; Sinh ngày: 10/10/1991 tại TP V, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT: Khối T, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đình S, sinh năm 1962 và bà: Trần Thị M, sinh năm: 1967; Vợ, con: chưa có; Tiền sự: không; Tiền án: Ngày 28/10/2015, bị TAND TP Vinh xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, ngày 15/01/2021 chấp hành xong hình phạt; Nhân thân: Ngày 01/12/2008: Công an T5 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản, hiện đã chấp hành xong; Ngày 20/9/2011: TAND TP Vinh xử phạt 25 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, ngày 02/4/2013 chấp hành xong hình phạt; Ngày 15/01/2014: TAND TP Vinh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 04/5/2015 chấp hành xong hình phạt; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/12/2023 đến nay; có mặt.

Bị cáo Nguyễn Xuân L; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 19/6/1991 tại TP Vinh, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT: Khối T, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Ngọc A, sinh năm: 1969 và bà Trần Thị L1, sinh năm 1970; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/12/2023 đến nay; có mặt.

Bị cáo Cao Tiến H; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 25/6/1995 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT: xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở hiện nay: K, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Cao Tiến S1, sinh năm: 1951 và bà Trần Thị T1, sinh năm 1954; Vợ, con: Vợ Lương Ngọc N, sinh năm 1997 và có một con 2 tuổi; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/01/2024 đến nay tại địa phương; có mặt.

Bị hại:

  1. Anh Phan Văn V, sinh năm 1976; trú tại: xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An.
  2. Anh Phan Sỹ M1, sinh năm 2002; chị Nguyễn Thị H1: Đều trú tại: xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
  3. Chị Nguyễn Thị Mai L2, sinh năm 1988; Trú tại: xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
  4. Chị Bùi Thị T2, sinh năm 1988; Trú tại: xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
  5. Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1988; Trú tại: xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
  6. Ông Nguyễn Bá N1, sinh năm 1967; Trú tại: xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An.
  7. Chị Vũ Thị Lan A1, sinh năm 2002; Trú tại: xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An.
  8. Chị Võ Thị Thu H2, sinh năm 1996; Trú tại: xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An.
  9. Ông Nguyễn Hạnh P, sinh năm 1948; Trú tại: xóm E, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
  10. Ông Đinh Hữu T3, sinh năm 1953; Trú tại: xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
  11. Anh Đinh Xuân H3, sinh năm 1979; xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
  12. Ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1973; Trú tại: xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An.
  13. Anh Ông Vĩnh B, sinh năm 1989; Trú tại: xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
  14. Anh Hoàng Đình N2, sinh năm 1987; Trú tại: xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
  15. Chị Nguyễn Thị P1, sinh năm 1981; Trú tại: xóm L, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An.
  16. Chị Trần Thị Minh T4, sinh năm 1985; Trú tại: khối B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
  17. Chị Nguyễn Thị Thu S2, sinh năm 1991; Trú tại: khối H, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
  18. Anh Lê Văn H4, sinh năm 1977; Trú tại: khối T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
  19. Anh Nguyễn Trần S3, sinh năm 1995; Trú tại: khối T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
  20. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1955; Trú tại: khối T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
  21. Ông Lê Ngọc Đ, sinh năm 1955; Trú tại: khối T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
  22. Anh Nguyễn Bá H5, sinh năm 2005; Trú tại: khối T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
  23. Chị Nguyễn Thị Ngọc M2, sinh năm 1995; Trú tại: xóm E, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.

Những người bị hại đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hành vi thứ nhất:

Vào khoảng 01 giờ ngày 10/11/2023 Nguyễn Xuân L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37N1-775.38 chở Nguyễn Đình T đi từ Tp . đi đến huyện H, tỉnh Nghệ An để trộm cắp tài sản. Khi đi qua nhà ông Phan Văn V, sinh năm 1976 tại xóm F, xã H, huyện H, T thấy cửa chính không khoá nên T trèo tường qua cửa chính vào phòng ngủ, lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động Iphone 8 Plus màu đen của ông V để đầu giường ngủ rồi trèo tường ra ngoài và gọi điện cho L đến đón. Sau đó, T đưa chiếc điện thoại lấy trộm được đến cửa hàng điện thoại di động HG Store tại số D, đường B, phường B, thành phố V bán cho chủ cửa hàng là Cao Tiến H với giá 1.500.000 đồng. Số tiền trên T và L chia nhau tiêu xài cá nhân hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 04 ngày 09/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện H kết luận: “01 chiếc điện thoại di động Iphone 8 Plus 64Gb có giá trị là 2.700.000 đồng.”

Ông V yêu cầu các bị cáo T và L phải bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt là: 2.700.000 đồng.

Hành vi thứ hai:

Vào khoảng 01 giờ ngày 22/11/2023, Nguyễn Xuân L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37N1-775.38 tiếp tục chở Nguyễn Đình T đi từ Tp. đến huyện N, tỉnh Nghệ An để trộm cắp tài sản. Khi đi qua nhà anh Phan Sỹ M1, sinh năm 2002 tại xóm F, xã N, huyện N, T thấy cửa phía trong không khoá nên đã trèo tường vào phòng ngủ lấy trộm 02 điện thoại di động Iphone Xs Max màu trắng của anh Phan Sỹ M1 và vợ là Nguyễn Thị H1 (Sinh năm 2004) để đầu giường ngủ rồi trèo tường ra ngoài gọi điện cho L đến đón. Sau đó, T đưa hai chiếc điện thoại này bán cho Cao Tiến H với giá 4.000.000 đồng. Số tiền trên T và L chia nhau tiêu xài cá nhân hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 46 ngày 20/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện N kết luận: “02 chiếc điện thoại di động Iphone Xs Max có giá trị là 4.900.000 đồng và 6.300.000 đồng.”

Như vậy, giá trị tài sản mà Nguyễn Đình T và Nguyễn Xuân L trộm cắp ngày 22/11/2023 là 11.200.000 đồng.

Chiếc điện thoại của anh M1 đã được thu hồi và trả lại cho anh M1, đối với điện chiếc điện thoại của chị H1 không thu hồi được, chị H1 yêu cầu bị cáo T và L phải bồi thường 4.900.000 đồng.

Hành vi thứ ba và thứ tư:

Vào khoảng 01 giờ ngày 23/11/2023, Nguyễn Xuân L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37N1-775.38 tiếp tục chở Nguyễn Đình T đi từ Tp . đến huyện N, tỉnh Nghệ An để trộm cắp tài sản. Khi đi qua nhà chị Nguyễn Thị Mai L2 (Sinh năm 1988) tại xóm A, xã N, huyện N, T thấy cửa phía trong không khoá nên đã trèo tường vào phòng ngủ lấy trộm 01 chiếc máy tính xách tay Dell Vostro 3500 màu ghi của chị L2 để trên bàn học rồi trèo tường ra ngoài. Sau đó, T tiếp tục đi bộ đến nhà chị Bùi Thị T2 (sinh năm 1988) ở xóm F, xã N, huyện N thấy cửa nhà không khóa nên T vào phòng ngủ lấy trộm 01 chiếc điện thoại Vsmart Joy 4 màu đen của chị T2 ở đầu giường ngủ rồi trèo tường ra ngoài gọi điện cho L2 đến đón về.

Sau đó, T đưa hai chiếc điện thoại và máy tính vừa trộm cắp được bán cho Cao Tiến H với giá với giá 4.000.000 đồng. Số tiền trên T và L2 chia nhau tiêu xài cá nhân hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 46 ngày 20/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện N kết luận: 01 chiếc máy tính xách tay Dell Vostro 3500 màu ghi giá trị là 7.000.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động Vsmart Joy 4 có giá trị là 2.100.000 đồng.

Như vậy, giá trị tài sản mà Nguyễn Đình T và Nguyễn Xuân L trộm cắp ngày 23/11/2023 là 9.100.000 đồng.

Hành vi thứ năm:

Vào khoảng 01 giờ ngày 26/11/2023, Nguyễn Xuân L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37N1-775.38 tiếp tục chở Nguyễn Đình T đi từ Tp . đến huyện N, Nghệ An để trộm cắp tài sản. Khi đi qua nhà chị Nguyễn Thị X (Sinh năm 1987) tại xóm H, xã N, huyện N, T thấy cửa phía trong nhà không khoá nên đã trèo tường vào phòng ngủ lấy trộm một điện thoại di động S4 S22 Plus, màu xanh ở đầu giường ngủ, phía sau ốp điện thoại có 1.000.000 đồng, một con lợn đất tiết kiệm bên trong có 1.000.000 đồng, 08 thẻ cào điện thoại mệnh giá 50.000 đồng rồi bỏ vào cặp xách màu đen lấy ở dưới giường rồi trèo tường ra ngoài và gọi điện cho L đến đón. Sau đó, T đưa chiếc điện thoại vừa trộm cắp được bán cho Cao Tiến H với giá với giá 900.000 đồng. Số tiền trên T và L chia nhau tiêu xài cá nhân hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 77 ngày 23/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện N kết luận: “01 chiếc điện thoại di động S4 S22 Plus màu xanh có giá trị 10.000.000 đồng, 01 cặp xách màu đen, bên ngoài có chữ Thủ đô vàng có giá trị 100.000 đồng.”

Như vậy, giá trị tài sản mà Nguyễn Đình T và Nguyễn Xuân L trộm cắp ngày 26/11/2023 là 12.500.000 đồng.

Chị X đã nhận lại điện thoại di động, các tài sản còn lại chị X yêu cầu bị cáo T và L bồi thường là 2.500.000 đồng.

Hành vi thứ sáu:

Vào rạng sáng ngày 28/11/2023, Nguyễn Xuân L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37N1-775.38 tiếp tục chở Nguyễn Đình T đi từ Tp . đến huyện H, tỉnh Nghệ An để trộm cắp tài sản. Khi đi qua nhà ông Nguyễn Bá N1, sinh năm 1967 tại xóm B, xã H, huyện H, thấy cửa trong nhà không khoá nên T vào phòng ngủ lấy trộm một điện thoại di động Samsung A03s màu đen của ông N1 ở đầu giường rồi sang phòng ngủ của chị Vũ Thị Lan A1, sinh năm 2002 (là con dâu ông N1) lấy trộm một điện thoại di động Iphone Xs max màu vàng của chị Lan A1 để ở trên giường. Sau đó T trèo tường ra ngoài và gọi điện cho L đến đón về khách sạn P2. Sau đó, T đưa hai chiếc điện thoại vừa trộm được bán cho Cao Tiến H với giá với giá 2.700.000 đồng. Số tiền trên T và L chia nhau tiêu xài cá nhân hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 02 ngày 09/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện H kết luận: “01 chiếc điện thoại di động S4 Galaxy A03S màu đen có giá trị 1.333.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone Xs Max màu vàng có giá trị 5.250.000 đồng.”

Như vậy, giá trị tài sản mà Nguyễn Đình T và Nguyễn Xuân L trộm cắp ngày 28/11/2023 là 6.583.000 đồng.

Hành vi thứ bảy:

Vào khoảng 01 giờ ngày 01/12/2023, Nguyễn Xuân L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37N1-775.38 tiếp tục chở Nguyễn Đình T đi đến huyện H, tỉnh Nghệ An để trộm cắp tài sản. Khi đi qua nhà chị Võ Thị Thu H2 (Sinh năm 1996) tại xóm C, xã H, huyện H, thấy cửa nhà không khoá nên T trèo tường vào phòng ngủ lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động Iphone 12 Pro Max màu xanh của chị H2 để ở đầu giường rồi trèo tường ra ngoài và gọi điện cho L đến đón. Sau đó, T bán chiếc điện thoại cho Cao Tiến H với giá 4.000.000 đồng. Số tiền trên T và L chia nhau tiêu xài cá nhân hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 05 ngày 09/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện H kết luận: “01 chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax màu xanh có giá trị 5.500.000 đồng”.

Chị Võ Thị Thu H2 yêu cầu bồi thường số tiền 5.500.000 đồng

Hành vi thứ tám và thứ chín:

Vào khoảng 01 giờ 15 phút ngày 05/12/2023, Nguyễn Xuân L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37N1-775.38 chở Nguyễn Đình T đi từ Tp . đến huyện N, tỉnh Nghệ An để trộm cắp tài sản. Khi đi qua nhà ông Nguyễn Hạnh P, sinh năm 1948 ở xóm E, xã N, huyện N, thấy cửa nhà không khoá nên T vào phòng ngủ lấy trộm một điện thoại di động N4 110i, màu đen và 1.000.000 đồng tiền mặt ở đầu giường ngủ của ông P rồi trèo tường ra ngoài tiếp tục đi đến nhà chị Nguyễn Thị Ngọc M2, sinh năm 1995, thấy cửa không khoá nên T vào phòng ngủ lấy trộm một điện thoại di động Samsung A6 màu ghi để ở đầu giường ngủ, phía sau ốp điện thoại có 1.000.000 đồng, một loa Bluetooth màu đen để trên bàn của chị Mai s đó trèo ra ngoài. Sau đó, T tiếp tục đi bộ đến xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, qua nhà ông Đinh Hữu T3, sinh năm 1953 thì thấy cửa nhà không khoá nên T vào phòng ngủ lấy trộm một điện thoại di động Samsung J4 plus màu đen của ông T3 để ở đầu giường. Sau đó T sang phòng anh Đinh Xuân Hoài, sinh năm 1979 là con trai ông T3 lấy trộm 01 điện thoại di động Nokia G10 màu đen, 01 điện thoại di động Oppo 1605 màu hồng để ở đầu giường và 01 máy tính xách tay Asus màu đen của anh H3 để ở trên bàn. Sau khi lấy trộm các tài sản trên, T trèo ra ngoài cất giấu các tài sản trộm cắp được rồi tiếp tục quay vào tìm tài sản thì bị ông T3 phát hiện hô hoán, T đẩy ngã ông T3 và dùng bình xịt hơi cay mang đi từ trước xịt hơi cay vào người ông T3 để tẩu thoát rồi gọi điện cho L đến đón về. Thực đưa điện thoại, máy tính xách tay lấy trộm được nói trên bán cho Cao Tiến H với giá 2.400.000 đồng. Số tiền trên T và L chia nhau tiêu xài cá nhân hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 46 ngày 20/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện N kết luận:

  • 01 chiếc điện thoại Nokia 110i màu trắng có giá trị 210.000 đồng;
  • 01 điện thoại di động Samsung A6 màu vàng có giá trị 2.100.000 đồng;
  • 01 loa Bluetooth JBL màu đen có giá trị 210.000 đồng;
  • 01 điện thoại di động Samsung J4 plus màu đen có giá trị 1.400.000 đồng;
  • 01 điện thoại di động Nokia G10 màu đen có giá trị 1.750.000 đồng;
  • 01 điện thoại di động Oppo 1605 màu trắng có giá trị 2.800.000 đồng;
  • 01 máy tính xách tay Asus P550L màu đen có giá trị 7.000.000 đồng.”

Như vậy, giá trị tài sản mà Nguyễn Đình T và Nguyễn Xuân L trộm cắp ngày 05/12/2023 là 17.470.000 đồng.

Ông Nguyễn Hạnh P yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 1.210.000 đồng; Chị Nguyễn Thị Ngọc M2 yêu cầu bồi thường số tiền 3.310.000 đồng.

Hành vi thứ mười:

Vào khoảng 01 giờ ngày 06/12/2023, Nguyễn Đình T mượn xe mô tô biển kiểm soát 37N1-775.38 của Nguyễn Xuân L để đi trộm cắp tài sản thì L đồng ý. T điều khiển xe đi từ Tp . đến huyện H, tỉnh Nghệ An để trộm cắp tài sản. Khi đi qua nhà ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1973 ở xóm F, xã H, huyện H, thấy cửa trong nhà không khoá nên T đi bộ vào phòng ngủ lấy trộm một điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen để ở đầu giường và 1.300.000 đồng trong túi quần dài của ông N3 rồi trèo tường ra ngoài điều khiển xe máy đi về. Sau đó, T đưa điện thoại lấy trộm được bán cho Cao Tiến H với giá 1.000.000 đồng. Số tiền trên T và L chia nhau tiêu xài cá nhân hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 03 ngày 09/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện H kết luận: “01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen có giá trị 1.700.000 đồng.”

Như vậy, giá trị tài sản mà Nguyễn Đình T và Nguyễn Xuân L trộm cắp ngày 06/12/2023 là 3.000.000 đồng.

Hành vi thứ mười một, mười hai và mười ba:

Vào khoảng 01 giờ ngày 07/12/2023, Nguyễn Xuân L tiếp tục điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37N1-775.38 chở Nguyễn Đình T đi từ Tp . đến huyện N, tỉnh Nghệ An để trộm cắp tài sản. Khi đi qua nhà anh Ông Vĩnh B1, sinh năm 1989 ở xóm F, xã N, huyện N thấy cửa trong nhà không khoá nên T đi vào phòng ngủ lấy trộm 01 điện thoại di động Vivo Y12s màu trắng đang để ở trên giường ngủ của anh B1. Sau đó, T trèo tường ra ngoài tiếp tục đi bộ đến nhà anh Hoàng Đình N2, sinh năm 1987 ở xóm D, xã N, huyện N, thấy cửa trong nhà không khoá nên T đi vào phòng ngủ lấy trộm một điện thoại di động Iphone 12 Pro Max màu xanh để ở đầu giường ngủ của anh N2. Sau đó T trèo tường ra ngoài và gọi điện cho L đến chở T đi đến khu vực xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An để trộm cắp tài sản. Khi đi qua nhà chị Nguyễn Thị P1, sinh năm 1981 ở xóm L, xã K, T thấy cửa nhà không khoá nên đã đi vào phòng ngủ lấy trộm một điện thoại di động Iphone X màu trắng và một máy tính xách tay Asus đang để trên bàn của chị P1 rồi đi ra ngoài gọi điện cho L đến đón về. Sau đó, T đưa những chiếc điện thoại, máy tính xách tay đã lấy trộm được nói trên bán cho Cao Tiến H. Lúc này, Cao Tiến H thấy Nguyễn Đình T nhiều lần bán điện thoại, máy tính xách tay nên có hỏi Thực tài sản do đâu mà có nhưng T không trả lời được nên Cao Tiến H biết tài sản trên là do T trộm cắp mà có nhưng vì ham lợi nên H vẫn đồng ý mua điện thoại và máy tính trên với giá 5.300.000 đồng. Số tiền trên T và L chia nhau tiêu xài cá nhân hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 46 ngày 20/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện N kết luận: “01 điện thoại di động Vivo Y12s màu trắng có giá trị 1.400.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro max màu xanh có giá trị 10.500.000 đồng;"

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 45 ngày 11/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện N kết luận: “01 điện thoại di động Iphone X màu trắng có giá trị 2.000.000 đồng; 01 máy tính xách tay Asus vỏ màu đen giá trị 2.500.000 đồng.”

Như vậy, giá trị tài sản mà Nguyễn Đình T và Nguyễn Xuân L trộm cắp và giá trị tài sản trộm cắp mà Cao Tiến H tiêu thụ ngày 07/12/2023 là 16.400.000 đồng.

Hành vi thứ mười bốn, mười lăm và mười sáu:

Vào khoảng 01 giờ ngày 10/12/2023, Nguyễn Xuân L sử dụng xe mô tô Honda Wave Alpha biển kiểm soát 37N1-775.38 chở Nguyễn Đình T đi từ Tp . đến thị trấn N, huyện N để trộm cắp tài sản. Khi đi qua nhà chị Trần Thị Minh T4, sinh năm 1985 ở khối B, thị trấn N, thấy cửa nhà không khoá nên T đi vào phòng ngủ lấy trộm 01 điện thoại di động Oppo màu đỏ, 01 điện thoại di động Vivo Y12s màu xanh đang để ở trên bàn của chị T4 rồi trèo tường ra ngoài. Sau đó, T đi bộ đến nhà chị Nguyễn Thị Thu S2, sinh năm 1991 ở khối H, thị trấn N thấy cửa nhà chị S2 không khoá nên T đi vào phòng ngủ lấy trộm một điện thoại di động Oppo Reno 7 màu vàng, 01 điện thoại di động Vivo Y21 màu xanh đang để ở trên bàn của chị S2 rồi trèo tường ra ngoài. T tiếp tục đi bộ đến khối T, thị trấn N, thấy nhà anh Lê Văn H4, sinh năm 1977 không khoá cửa nên T đi vào phòng ngủ lấy trộm 01 điện thoại di động Samsung A03, màu đen để ở đầu giường của anh H4 rồi trèo tường ra ngoài. T tiếp tục đến nhà anh Nguyễn Trần S3, sinh năm 1995 vào phòng ngủ lấy trộm 01 điện thoại di động Redmi 10c màu xanh để ở đầu giường của anh S3 rồi trèo tường ra ngoài. T đi bộ đến nhà anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1955 đi vào phòng ngủ lấy trộm 01 điện thoại di động Vivo màu xanh của anh C rồi trèo tường ra ngoài. T tiếp tục đi bộ đến nhà anh Lê Ngọc Đ, sinh năm 1955 đi vào phòng ngủ lấy trộm 01 điện thoại di động Oppo A83 màu đen rồi đi sang nhà anh Nguyễn Bá H5, sinh năm 2005 lấy trộm một máy tính xách tay Dell, một điện thoại di động Vivo 2026, một tai nghe đang để ở trên bàn. Sau khi lấy trộm các tài sản nói trên, T gọi điện cho L đến đón về. Sau đó, T đưa điện thoại, máy tính xách tay, tai nghe đã lấy trộm được bán cho Cao Tiến H. Lúc này, cũng như ngày 07/12/2023, H biết những tài sản trên là do T phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý mua với giá 9.500.000 đồng. Số tiền trên T và L chia nhau tiêu xài cá nhân hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 46 ngày 20/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện N kết luận:

  • 01 điện thoại di động Oppo màu đỏ có giá trị 2.100.000 đồng;
  • 01 điện thoại di động Vivo Y12s màu xanh có giá trị 1.400.000 đồng;
  • 01 điện thoại di động Oppo Reno 7 màu vàng có giá trị 2.800.000 đồng;
  • 01 điện thoại di động Vivo Y21 màu xanh có giá trị 2.100.000 đồng;
  • 01 điện thoại di động Samsung A03 màu đen có giá trị 1.400.000 đồng;
  • 01 điện thoại di động Redmi 10c màu xanh có giá trị 2.100.000 đồng;
  • 01 điện thoại di động Vivo màu xanh có giá trị 2.100.000 đồng;
  • 01 điện thoại di động Oppo A83 màu đen có giá trị 1.400.000 đồng;
  • 01 máy tính xách tay Dell Latitude có giá trị 4.200.000 đồng;
  • 01 điện thoại di động Vivo 2026 có giá trị 1.400.000 đồng;
  • 01 một tai nghe Gameming có giá trị 140.000 đồng.”

Như vậy, giá trị tài sản mà Nguyễn Đình T và Nguyễn Xuân L trộm cắp và giá trị tài sản trộm cắp mà Cao Tiến H tiêu thụ ngày 10/12/2023 là 21.140.000 đồng.

Đến ngày 13/12/2023, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật Nguyễn Đình T và Nguyễn Xuân L đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện N xin đầu thú về hành vi phạm tội của mình.

Ngày 29/01/2024, Cao Tiến H đến Cơ quan CSĐT Công an huyện N đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tổng giá trị tài sản Nguyễn Đình T và Nguyễn Xuân L đã trộm cắp là: 105.593.000 đồng. Tổng giá trị tài sản phạm tội mà Cao Tiến H tiêu thụ trong ngày 07/12/2023 và 10/12/2023 là 37.540.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 41/CT-VKSNĐ ngày 03/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b, c, đ khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; Nguyễn Xuân L về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự và Cao Tiến H về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn giữ nguyên nội dung như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự:

  • Áp dụng điểm b, c, đ khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Thực t 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù.
  • Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân L từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt Cao Tiến H 02 năm 09 tháng đến 03 năm Cải tạo không giam giữ, miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

  • Chấp nhận yêu cầu bồi thường của các bị hại ông Nguyễn Hạnh P, ông Phan Văn V, chị Võ Thị Thu H2, chị Nguyễn Thị Ngọc M2, chị Nguyễn Thị X và chị Nguyễn Thị H1 yêu cầu Nguyễn Đình T, Nguyễn Xuân L liên đới đền bù dân sự tương ứng với giá trị các tài sản bị chiếm đoạt lần lượt là 1.210.000 đồng, 2.700.000 đồng, 5.500.000 đồng, 3.310.000 đồng, 4.900.000 đồng, 2.500.000 đồng.
  • Quá trình điều tra, chị Nguyễn Thị X có đơn yêu cầu cầu bồi thường dân sự số tiền 98.500.000 đồng đối với số tài sản mà chị X cho rằng chị bị Nguyễn Đình T trộm cắp gồm các nhẫn vàng, tiền mặt. Tuy nhiên quá trình chuẩn bị xét xử, chị có đơn xin rút yêu cầu này nên miễn xét.

Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ 01 bình xịt hơi cay thu giữ của bị cáo Nguyễn Đình T. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen thu giữ của bị cáo T, 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus gắn thẻ sim 0876.640.337, 01 xe máy Honda Wave alpha, màu đỏ đen bạc, biển kiểm soát 37N1-775.38 thu giữ của Nguyễn Xuân L.

Tại phiên tòa, các bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì; Lời nói sau cùng các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa những người bị hại đã được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến phiên tòa vì trong hồ sơ đã có lời khai đầy đủ, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại là phù hợp với quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, lời khai của bị hại, biên bản tiếp nhận người phạm tội đầu thú; Kết luận định giá; vật chứng đã được thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ 10/11/2023 đến 10/12/2023, trên địa bàn huyện N, huyện N, huyện H, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Đình T và Nguyễn Xuân L (không có nghề nghiệp ổn định) đã thực hiện 16 hành vi trộm cắp tài sản với tổng giá trị 105.593.000 đồng. Cụ thể như sau:

Ngày 10/11/2023, Nguyễn Đình T và Nguyễn Xuân L đột nhập vào nhà ông Phan Văn V địa chỉ xóm F, xã H, huyện H, trộm cắp 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus có giá trị 2.700.000 đồng.

Ngày 22/11/2023, Nguyễn Đình T và Nguyễn Xuân L đột nhập vào nhà anh Phan Sỹ M1 địa chỉ xóm F, xã N, huyện N, trộm cắp 02 điện thoại di động Iphone Xs Max có tổng giá trị 11.200.000 đồng.

Ngày 23/11/2023, Nguyễn Đình T và Nguyễn Xuân L đột nhập vào nhà chị Nguyễn Thị Mai L2 địa chỉ xóm F, xã N, huyện N, trộm cắp 01 máy tính xách tay Dell Vostro có giá trị 7.000.000 đồng; đột nhập vào nhà chị Bùi Thị T2 địa chỉ xóm F, xã N, huyện N trộm cắp 01 điện thoại Vsmart Joy 4 có giá trị 2.100.000 đồng.

Ngày 26/11/2023, Nguyễn Đình T và Nguyễn Xuân L đột nhập vào nhà chị Nguyễn Thị X địa chỉ xóm H, xã N, huyện N, trộm cắp tổng giá trị tài sản 12.500.000 đồng (Trong đó: 01 điện thoại di động Samsung S22 Plus trị giá 10.000.000 đồng, 2.000.000 đồng tiền mặt, 08 thẻ cào điện thoại mệnh giá 50.000 đồng, 01 cặp xách màu đen trị giá 100.000 đồng).

Ngày 28/11/2023, Nguyễn Đình T và Nguyễn Xuân L đột nhập vào nhà ông Nguyễn Bá N1 địa chỉ xóm B, xã H, huyện H, trộm cắp 01 điện thoại di động S4 A03S, 01 điện thoại di động Iphone Xs Max có tổng giá trị là 6.583.000 đồng.

Ngày 01/12/2023, Nguyễn Đình T và Nguyễn Xuân L đột nhập vào nhà chị Võ Thị Thu H2 địa chỉ xóm C, xã H, huyện H, trộm cắp 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax có giá trị 5.500.000 đồng.

Ngày 05/12/2023, Nguyễn Đình T và Nguyễn Xuân L trộm cắp tổng giá trị tài sản 17.470.000 đồng (Trong đó trộm cắp của ông Nguyễn Hạnh P ở xóm E, xã N, huyện N 01 điện thoại di động Nokia 110i trị giá 210.000 đồng và 1.000.000 tiền mặt; Trộm cắp của chị Nguyễn Thị Ngọc M2 ở xóm E, xã N, huyện N 01 điện thoại di động Samsung A6 trị giá 2.100.000 đồng, 1.000.000 đồng tiền mặt, một loa Bluetooth trị giá 210.000 đồng; Trộm cắp của ông Đinh Hữu T3 ở xóm F, xã N, huyện N 01 điện thoại di động Samsung J4 trị giá 1.400.000 đồng, 01 điện thoại di động N4 G10 trị giá 1.750.000 đồng, 01 điện thoại di động Oppo 1605 trị giá 2.800.000 đồng, 01 máy tính xách tay Asus trị giá 7.000.000 đồng).

Ngày 06/12/2023, Nguyễn Đình T đột nhập vào nhà ông Nguyễn Ngọc Q địa chỉ xóm F, xã H, huyện H, trộm cắp 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus và tiền mặt có tổng giá trị 3.000.000 đồng.

Ngày 07/12/2023, Nguyễn Đình T và Nguyễn Xuân L trộm cắp tổng giá trị tài sản 16.400.000 đồng (Trong đó trộm cắp của anh Ông Vĩnh B1 ở xóm A, xã N, huyện N 01 điện thoại di động Vivo Y12s có giá trị 1.400.000 đồng; của anh Hoàng Đình N2 ở xóm D, xã N, huyện N 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro max có giá trị 10.500.000 đồng; của chị Nguyễn Thị P1 ở xóm L, xã K, huyện N 01 điện thoại di động Iphone X, 01 máy tính xách tay Asus có tổng giá trị 4.500.000 đồng).

Ngày 10/12/2023, Nguyễn Đình T và Nguyễn Xuân L trộm cắp tổng giá trị tài sản 21.140.000 đồng (Trong đó trộm cắp của chị Trần Thị Minh T4 ở khối B, thị trấn N 01 điện thoại di động Oppo, 01 điện thoại di động Vivo Y12s giá trị 3.500.000 đồng; Trộm cắp của chị Nguyễn Thị Thu S2 ở khối H, thị trấn N 01 điện thoại di động Oppo Reno 7, 01 điện thoại di động Vivo Y21 có giá trị 4.900.000 đồng; Trộm cắp ở khối T, thị trấn N của anh Lê Văn H4 01 điện thoại di động Samsung A03 có giá trị 1.400.000 đồng; Trộm cắp của anh Nguyễn Trần S3 01 điện thoại di động Redmi 10c có giá trị 2.100.000 đồng; Trộm cắp của anh Nguyễn Văn C 01 điện thoại di động Vivo có giá trị 2.100.000 đồng; Trộm cắp của nhà anh Lê Ngọc Đ 01 điện thoại di động Oppo A83 có giá trị 1.400.000 đồng; Trộm cắp của anh Nguyễn Bá H5 01 máy tính xách tay Dell, 01 điện thoại di động Vivo 2026, một tai nghe có giá trị 5.740.000 đồng).

Bị cáo Cao Tiến H mặc dù biết Nguyễn Đình T mang tài sản trộm cắp được đi bán nhưng vẫn tiêu thụ tổng giá trị tài sản 37.540.000 đồng (Trong đó ngày 07/12/2023 tiêu thụ các tài sản: 01 điện thoại di động Vivo Y12s, 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro Max, 01 điện thoại di động Iphone X, 01 máy tính xách tay Asus với tổng giá trị 16.400.000 đồng; Ngày 10/12/2023 tiêu thụ các tài sản: 01 điện thoại di động Oppo, 01 điện thoại di động Vivo Y12s, 01 điện thoại di động Oppo Reno 7, 01 điện thoại di động Vivo Y21, 01 điện thoại di động Samsung A03, 01 điện thoại di động Redmi 10c, 01 điện thoại di động Vivo, 01 điện thoại di động Oppo A83, 01 máy tính xách tay Dell, 01 điện thoại di động Vivo 2026, một tai nghe với tổng giá trị 21.140.000 đồng).

Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Đình T và Nguyễn Xuân L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 173 BLHS; Hành vi của bị cáo Cao Tiến H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 BLHS. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.2]. Xét hành vi của các bị cáo và mức hình phạt áp dụng: Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Trong thời gian ngắn, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của người khác, các bị cáo T và L đã lén lút thực hiện 16 hành vi trộm cắp tài sản mục đích để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân; Bị cáo T là người khởi xướng rủ rê bị cáo L và là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, dùng bình xịt hơi cay hành hung để tẩu thoát nên giữ vai trò chính, bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn cố ý tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, do đó phải chịu mức án cao hơn. Bị cáo L thực hiện nhiều hành vi phạm tội cùng với bị cáo T với vai trò giúp sức tích cực nên cần xử phạt nghiêm tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Bị cáo T và L thực hiện hành vi trộm cắp có tính chất chuyên nghiệp, xem hành vi trộm cắp tài sản là nguồn thu nhập chính để sinh sống hằng ngày, các bị cáo đều nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện chứng tỏ các bị cáo rất coi thường pháp luật, vì vậy cần xét xử nghiêm và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ răn đe giáo dục các bị cáo. Đối với bị cáo H mặc dù biết T mang tài sản trộm cắp được đi bán nhưng vẫn tiêu thụ để kiếm lời, vì vậy cũng cần phải xét xử nghiêm, tuy nhiên bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, hoàn cảnh gia đình bị cáo là lao động chính, vợ đang mang thai và nuôi con nhỏ nên không cần thiết cách ly bị cáo mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ nghiêm.

Xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ: Đối với bị cáo Nguyễn Đình T vào năm 2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong ngày 15/01/2021, đến thời điểm phạm tội bị cáo T chưa được xóa án tích nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS; Bị cáo Cao Tiến H thực hiện 02 lần tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có trong hai ngày 07/12/2023 và 10/12/2023 nên bị áp dụng tỉnh tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52BLHS.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, các bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; sau khi phạm tội các bị cáo đã đến cơ quan công an đầu thú về hành vi của mình, ngoài ra gia đình bị cáo H có người thân là người có công với cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Đối với các hành vi mua các tài sản do bị cáo T và L trộm cắp của Cao Tiến H vào các ngày 10/11/2023, 22/11/2023, 23/11/2023, 26/11/2023, 28/11/2023, 01/12/2023, 05/12/2023, 06/12/2023. Tuy nhiên trong những lần này H không biết rõ các tài sản đó do trộm cắp mà có nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xử lý.

[2.3]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173; khoản 5 Điều 323 BLHS thì người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên xét thấy các bị cáo hiện tại không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo, miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo H.

[2.4]. Về trách nhiệm dân sự: - Các bị hại chị Bùi Thị T2, chị Nguyễn Thị Mai L2, ông Nguyễn Bá N1, chị Vũ Thị Lan A1, ông Đinh Hữu T3, ông Đinh Xuân H3, ông Nguyễn Ngọc Q, anh Ông Vĩnh B1, anh Hoàng Đình N2, chị Trần Thị Minh T4, chị Nguyễn Thị Thu S2, anh Lê Văn H4, chị Nguyễn Thị P1, anh Nguyễn Trần S3, ông Nguyễn Văn C, anh Nguyễn Bá H5, ông Lê Ngọc Đ và anh Phan Sỹ M1 đã nhận lại các tài sản bị chiếm đoạt, hiện không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét.

- Các bị hại ông Nguyễn Hạnh P yêu cầu bồi thường số tiền 1.210.000 đồng, ông Phan Văn V yêu cầu bồi thường số tiền 2.700.000 đồng, chị Võ Thị Thu H2 yêu cầu bồi thường số tiền 5.500.000đ, chị Nguyễn Thị Ngọc M2 yêu cầu bồi thường số tiền 3.310.000 đồng, chị Nguyễn Thị H1 yêu cầu bồi thường 4.900.000 đồng, chị Nguyễn Thị X bị trộm tài sản tổng giá trị là 12.500.000 đồng (Trong đó: 01 điện thoại di động Samsung S22 Plus trị giá 10.000.000 đồng, 2.000.000 đồng tiền mặt, 08 thẻ cào điện thoại mệnh giá 50.000 đồng = 400.000đ, 01 cặp xách màu đen trị giá 100.000 đồng), chị X đã nhận lại điện thoại, còn lại số tiền 2.500.000 đồng chị X yêu cầu bị cáo T và L2 phải bồi thường (Quá trình điều tra chị X khai ngoài các tài sản các bị cáo còn lấy trộm của chị tiền mặt và vàng tổng giá trị 98.000.000đ và yêu cầu các bị cáo phải bồi thường, tuy nhiên giai đoạn xét xử chị X xin rút yêu cầu này nên Hội đồng xét xử miễn xét).

Các bị cáo T và L2 đều chấp nhận bồi thường theo yêu cầu của các bị hại và không có ý kiến gì, các bị cáo đều sử dụng chung số tiền từ việc bán tài sản trộm cắp mà có nên cần buộc các bị cáo T và L2 phải liên đới bồi thường cho các bị hại theo kỷ phần ngang nhau.

[2.6]. Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, các vật chứng đã được thu hồi và đã trả lại cho chủ sở hữu Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với 01 chiếc điện thoại di động nokia 105 màu đen thu giữ của bị cáo T; 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu đen và 01 chiếc xe máy Wave an pha BKS 37N1 - 77538 thu giữ của Nguyễn Xuân L là vật chứng liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước. Vật chứng là 01 bình xịt hơi cay thu giữ của bị cáo T không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

[3]. Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình T và Nguyễn Xuân L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Cao Tiến H phạm tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

- Căn cứ điểm b, c, đ khoản 2 Điều 173; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam ( ngày 13/12/2023). Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo T.

- Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 173; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân L 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam (ngày 13/12/2023). Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo L.

- Căn cứ khoản 1 Điều 323; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Cao Tiến H 02 (hai) năm 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Cao Tiến H cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình của bị cáo H có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Miễn hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo H.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584; 585; 586; 587, 589 của Bộ luật Dân sự 2015: Buộc bị cáo Nguyễn Đình T và Nguyễn Xuân L phải liên đới bồi thường cho những người bị hại tổng số tiền là 20.120.000 đồng (hai mươi triệu một trăm hai mươi ngàn đồng). Cụ thể: Mỗi bị cáo phải bồi thường cho ông Nguyễn Hạnh P số tiền 605.000 đồng (sáu trăm linh năm ngàn đồng), ông Phan Văn V số tiền 1.350.000 đồng (một triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng), chị Võ Thị Thu H2 số tiền 2.750.000đồng (hai triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng), chị Nguyễn Thị Ngọc M2 số tiền 1.655.000 đồng (một triệu sáu trăm năm mươi lăm ngàn đồng), chị Nguyễn Thị X số tiền 1.250.000 đồng (một triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng), chị Nguyễn Thị H1 2.450.000 đồng (hai triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải bồi thường cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi suất của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.

3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỹ 01 bình xịt hơi cay; Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc xe máy wave an pha BKS 37N1 - 77538; 01 chiếc điện thoại di động nokia 105 màu đen và 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu đen (Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; điểm a, d, e khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm; Buộc bị cáo T và bị cáo L mỗi bị cáo phải chịu 503.000 đồng (năm trăm linh ba ngàn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Nam Đàn;
  • - Chi cục THADS huyện Nam Đàn
  • - Công an huyện Nam Đàn
  • - VKSND tỉnh Nghệ An
  • - TAND tỉnh Nghệ An
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An;
  • - UBND phường Bến Thuỷ, TP Vinh, NA
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HSST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 40/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình Thực và đb phạm tội " Trộm cắp tài sản'
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger