|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2024/DS-ST
Ngày: 15-8-2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đại
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Tuyết Minh, bà Trần Thị Yến Nhi.
Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Chuyên – Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 104/2024/TLST-DS ngày 14 tháng 5 năm 2024, về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-DS ngày 12/7/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2024/QĐST-DS ngày 01/8/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N
Địa chỉ: Số B, L, B, Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V – Chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng N.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lê Hoàng S, sinh năm 1988 - Chức vụ: Phó trưởng phòng khách hàng Ngân hàng N – Chi nhánh huyện T; địa chỉ: K, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Theo giấy ủy quyền số 678/GUQ-NHNo.TP ngày 03/6/2024).
- Bị đơn: Bà Đỗ Thị Q, sinh năm 1953 và anh Trần Mạnh P, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Ấp B, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
(Có mặt đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn; vắng mặt bị đơn)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ và tại phiên tòa đại diện cho nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng N đã cho bà Đỗ Thị Q, anh Trần Mạnh P vay số tiền 1.200.000.000 đồng, theo Hợp đồng tín dụng số 5909-LAV-202202115 ngày 28/6/2022, mục đích vay: Bù đắp chi phí đầu tư hàng rào, hệ thống tưới chăm sóc, trồng mới 1,7ha sầu riêng, nuôi 42 con bò/35 bò giống, nuôi 30 con dê/17 dê giống, thời hạn vay là 60 tháng, lãi suất 10%/năm.
Tài sản đảm bảo cho khoản vay: Quyền sử dụng đất diện tích đất là 706.8m², thửa đất 584, tờ bản đồ 6, địa chính xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 823922, số vào sổ cấp giấy: CH00671 do UBND huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 02/5/2012 đứng tên bà Đỗ Thị Q.
Ngày 30/6/2022, Ngân hàng N đã giải ngân cho bà Q, anh P với số tiền 1.200.000.000 đồng, theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với hợp đồng tín dụng.
Tạm tính đến ngày 15/8/2024 bà Q, anh P đã thanh toán cho Ngân hàng N số tiền tổng cộng là 322.095.891 đồng (Trong đó: Nợ gốc 158.000.000 đồng, nợ lãi 164.095.891 đồng).
Dư nợ của khoản vay tạm tính tới ngày 15/8/2024 là 1.105.597.262 đồng (Trong đó nợ gốc là 1.030.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 74.742.467 đồng, lãi quá hạn 854.795 đồng).
Nay Ngân hàng N yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- Ngân hàng N yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tân Phú giải quyết buộc bà Q, anh P có nghĩa vụ trả số tiền tạm tính đến ngày 15/8/2024 cho Ngân hàng N là: 1.105.597.262 đồng (Trong đó nợ gốc là 1.030.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 74.742.467 đồng, lãi quá hạn 854.795 đồng).
- Đề nghị Tòa án tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 16/8/2024 cho đến khi bà Q, anh P thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại các hợp đồng tín dụng đã ký.
- Trong trường hợp bà Q, anh P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N, đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng có quyền được tự phát mại tài sản bảo đảm hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm, cụ thể là: Quyền sử dụng đất diện tích đất là 706.8m², thuộc thửa đất 584, tờ bản đồ 6, địa chính xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 823922, số vào sổ cấp giấy: CH00671 do UBND huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 02/5/2012 đứng tên bà Đỗ Thị Q để thu hồi nợ vay cho Ngân hàng N.
Bất kỳ sự thay đổi, sửa chữa, nâng cấp nào của bà Q, anh P đối với tài sản thể chấp làm tăng giá trị thực tế của tài sản thế chấp sẽ được coi là bộ phận không thể tách rời thuộc tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay cho Ngân hàng N.
- Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với Ngân hàng N. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết kho nợ còn lại cho Ngân hàng N.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 235/2024 bị đơn bà Đỗ Thị Q trình bày:
Vào ngày 28/6/2022 bà và con trai là anh Trần Mạnh P có vay của Ngân hàng N – Chi nhánh huyện T số tiền 1.200.000.000 đồng, theo hợp đồng tín dụng số 5909-LAV-202202115 ngày 28/6/2022, thời gian vay là 60 tháng, lãi suất 10%/năm, mục đích là để đầu tư hàng rào, hệ thống tưới, chăm sóc mới 1.7ha sầu riêng, chăn nuôi bò, dê.
Tài sản để đảm bảo khoản vay là quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 823922, số vào sổ cấp giấy: CH00671 do UBND huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 02/5/2012 đối với diện tích đất là 706.8m², thửa đất 584, tờ bản đồ 6, địa chính xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai đứng tên bà Đỗ Thị Q.
Tính đến ngày 10/4/2024 bà và anh P đã trả cho Ngân hàng N số tiền là 322.095.891 đồng (Trong đó: tiền gốc là 158.000.000 đồng, tiền lãi 164.095.891 đồng).
Tính đến ngày 10/4/2024 bà và anh P còn nợ Ngân hàng N số tiền là 1.080.791.780 đồng (Trong đó: nợ gốc: 1.042.000.000 đồng, tiền lãi 38.791.780 đồng).
Nay Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc:
- Bà và anh P có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng N số tiền tạm tính đến ngày 10/4/2024 cho Ngân hàng N là 1.080.791.780 đồng (Trong đó: nợ gốc: 1.042.000.000 đồng, tiền lãi 38.791.780 đồng) thì bà và anh P cũng đồng ý thanh toán cho Ngân hàng số tiền này.
- Bà và anh P còn phải có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh tính từ ngày 11/4/2024 cho đến khi hoàn thành xong nghĩa vụ trả nợ .
- Nếu bà và anh Trần Mạnh P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì bà và anh P đồng ý để Ngân hàng N được quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phát mãi các tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho Ngân hàng N, chi tiết tài sản bảo đảm như sau: Quyền sử dụng đất diện tích đất là 706.8m², thuộc thửa đất 584, tờ bản đồ 6, địa chính xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 823922, số vào sổ cấp giấy: CH00671 do UBND huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 02/5/2012 đứng tên bà Đỗ Thị Q. Trường hợp tài sản bảo đảm không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ, thì bà Q và anh P vẫn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N cho đến khi trả hết khoản nợ.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử Tòa án đã chấp hành đúng các qui định của pháp luật về tố tụng dân sự; nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật; bị đơn không thực hiện đúng các quy định của pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N. Cụ thể:
- Buộc bà Q, anh P có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng N tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 15/8/2024 là: 1.105.597.262 đồng (Trong đó nợ gốc là 1.030.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 74.742.467 đồng, lãi quá hạn 854.795 đồng).
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Q, anh P còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
- Kể từ ngày Ngân hàng N có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Q, anh P không thanh toán số nợ nêu trên thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất diện tích đất là 706.8m², thuộc thửa đất 584, tờ bản đồ 6, địa chính xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 823922, số vào sổ cấp giấy: CH00671 do UBND huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 02/5/2012 đứng tên bà Đỗ Thị Q để thu hồi tổng số tiền nợ vốn, nợ lãi. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì bà Q, anh P vẫn phải có nghĩa vụ trả hết kho nợ còn lại cho Ngân hàng N.
- Về chi phí tố tụng: Buộc bà Q, anh P phải trả cho Ngân hàng N chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Bà Q, anh P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Trả lại cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét thấy bị đơn bà Q, anh P có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai theo qui định tại các Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2]. Về quan hệ tranh chấp và tư cách đương sự: Ngân hàng N khởi kiện bà Q, anh P trên cơ sở hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết. Căn cứ khoản 3, Điều 26, Điều 30, Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và xác định Ngân hàng N là nguyên đơn, bà Q, anh P là bị đơn.
[1.3]. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để hòa giải mà vẫn cố tình vắng mặt. Vì vậy, theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án không thể tiến hành hòa giải được.
[1.4]. Bà Q, anh P đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Q, anh P theo quy định của pháp luật.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu bà Q, anh P có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng N số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 15/8/2024 là 1.105.597.262 đồng (Trong đó nợ gốc là 1.030.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 74.742.467 đồng, lãi quá hạn 854.795 đồng). Bà Q, anh P phải tiếp tục thanh toán khoản nợ lãi phát sinh kể từ ngày 16/8/2024 theo lãi suất nợ quá hạn trong Hợp đồng tín dụng cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng N.
Xét thấy:
[2.1]. Về hình thức của hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng N và bà Q, anh P (Hợp đồng tín dụng số 5909-LAV-202202115 ngày 28/6/2022)
Ngân hàng N là tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật các Tổ chức Tín dụng và các quy định khác của pháp luật và được phép cấp tín dụng tiêu dùng. Tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng 5909-LAV-202202115 ngày 28/6/2022, bà Q đã cung cấp các giấy tờ tùy thân, ký tên vào hợp đồng tín dụng từ đó thể hiện việc ký kết hợp đồng dựa trên cơ sở tự nguyện và người ký kết hợp đồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Do đó, Hợp đồng tín dụng 5909-LAV-202202115 ngày 28/6/2022 đảm bảo về mặt hình thức và có hiệu lực kể từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại các Điều 385; Điều 398; Điều 463; Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng.
[2.2]. Về thực hiện hợp đồng và nghĩa vụ thanh toán:
Căn cứ vào hợp đồng tín dụng số 5909-LAV-202202115 ngày 28/6/2022, bảng kê tính lãi và lời thừa nhận của bà Q có cơ sở xác định Ngân hàng N đã ký kết hợp đồng tín dụng cho vay số tiền 1.200.000.000 đồng.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 23/5/2024 bà Q cũng thừa nhận đã vay của Ngân hàng N số tiền nêu trên hiện nay mới thanh toán được cho Ngân hàng N số tiền 322.095.891 đồng (Trong đó: Nợ gốc 158.000.000 đồng, nợ lãi 164.095.891 đồng), tạm tính đến ngày 10/4/2024 bà và anh P còn nợ Ngân hàng N số tiền là 1.080.791.780 đồng (Trong đó: nợ gốc: 1.042.000.000 đồng, tiền lãi 38.791.780 đồng).
Do bà Q, anh P vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn và khởi kiện là có căn cứ theo thỏa thuận giữa hai bên và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010.
[2.3]. Về yêu cầu trả nợ gốc: Xét bà Q, anh P đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đã được các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 5909-LAV-202202115 ngày 28/6/2022. Do đó, Ngân hàng N yêu cầu bà Q, anh P có nghĩa vụ trả nợ gốc của Hợp đồng tín dụng số 5909-LAV-202202115 ngày 28/6/2022 với số tiền gốc là 1.030.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại các Điều 351; Điều 357; Điều 466; Điều 468; Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng.
[2.4]. Về yêu cầu trả tiền lãi: Số tiền lãi Ngân hàng N yêu cầu bà Q, anh P trả được tính dựa vào sự thỏa thuận giữa các bên tại hợp đồng tín dụng số 5909-LAV-202202115 ngày 28/6/2022; thỏa thuận này phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010.
Do đó, yêu cầu của Ngân hàng N về việc buộc bà Q, anh P có nghĩa vụ trả số tiền nợ lãi trong hạn, quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 15/8/2024) của hợp đồng tín dụng số 5909-LAV-202202115 ngày 28/6/2022 với số tiền nợ lãi trong hạn là 74.742.467 đồng, lãi quá hạn 854.795 đồng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.5]. Xét yêu cầu của Ngân hàng N về việc yêu cầu bà Q, anh P tiếp tục chịu lãi phát sinh từ ngày 16/8/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng cho vay cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nợ vay. Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu này phù hợp với thỏa thuận của các bên được quy định tại hợp đồng tín dụng số 5909-LAV-202202115 ngày 28/6/2022 nên có cơ sở để chấp nhận.
[2.6]. Xét bà Q, anh P vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận, ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của Ngân hàng N. Vì vậy, Ngân hàng N yêu cầu Tòa án buộc bà Q, anh P thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.7]. Đối với yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo của Ngân hàng N:
Trong trường hợp bà Q, anh P không trả tiền cho Ngân hàng N, hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng N đề nghị Tòa án tuyên tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất diện tích đất là 706.8m², thuộc thửa đất 584, tờ bản đồ 6, địa chính xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 823922, số vào sổ cấp giấy: CH00671 do UBND huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 02/5/2012 đứng tên bà Đỗ Thị Q. Tài sản trên đã được bà Đỗ Thị Q thế chấp cho Ngân hàng N theo hợp đồng thế chấp số 2806NCT/2022 ngày 28/6/2022, số chứng thực 245, quyển số 01/2022 STC/HĐ, GD được UBND xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai chứng thực ngày 28/6/2022 để thu hồi nợ vay cho Ngân hàng N.
Xét thấy, Hợp đồng thế chấp số 2806NCT/2022 ngày 28/6/2022, được ký kết giữa Ngân hàng N với bà Q phù hợp với quy định tại Điều 317, Điều 319 Bộ luật Dân sự năm 2015. Bà Q, anh P cũng không tranh chấp về hiệu lực của hợp đồng thế chấp, thừa nhận đã ký hợp đồng thế chấp trên cơ sở tự nguyện, nên hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý, có hiệu lực đối với các bên, bà Q, anh P phải tuân thủ hợp đồng theo quy định tại Điều 401 Bộ luật Dân sự.
Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng N: Trường hợp bà Q, anh P không thực hiện trả nợ hoặc trả nợ không hết cho Ngân hàng N, thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản đảm bảo nêu trên để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Trường hợp tài sản thế chấp không đủ thanh toán toàn bộ nợ vay, bà Q, anh P có nghĩa vụ trả nợ đến khi thanh toán hết nợ vay, đồng thời chịu tất cả các khoản chi phí phát sinh trong quá trình giải quyết vụ kiện trên.
[3] Về chi phí tố tụng: Chi phí tố tụng về xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N được chấp nhận nên bà Q, anh P phải chịu chi phí tố tụng về xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng. Ngân hàng N đã tạm ứng chi phí tố tụng nên bà Q, anh P phải nộp lại số tiền này để hoàn trả cho Ngân hàng N.
[4]. Về án phí:
Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bà Q, anh P phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, nguyên đơn Ngân hàng N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[5]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 171; Điều 177; Điều 179; Điều 196; Điều 208; Điều 220; khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 233; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 317, Điều 319, Điều 401; Điều 351; Điều 357; Điều 385; Điều 398; Điều 463; Điều 466; Điều 468; Điều 688 của Bộ luật Dân sự;.
- - Khoản 2 Điều 91; Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng;
- - Khoản 2 Điều 21 của Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016.
- - Luật Phí và lệ phí năm 2016;
- - Điều 6, điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.
-
Buộc bà Đỗ Thị Q, anh Trần Mạnh P có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng N tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 15/8/2024 là: 1.105.597.262 đồng (Trong đó: Số tiền vay gốc là 1.030.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 74.742.467 đồng, lãi quá hạn 854.795 đồng).
Trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bà Q, anh P còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ vay.
- Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
-
Buộc bà Đỗ Thị Q, anh Trần Mạnh P có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng N tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 15/8/2024 là: 1.105.597.262 đồng (Trong đó: Số tiền vay gốc là 1.030.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 74.742.467 đồng, lãi quá hạn 854.795 đồng).
- Sau khi bà Q, anh P trả hết số tiền nêu trên cho Ngân hàng N thì Ngân hàng N có trách nhiệm giải chấp và giao trả cho bà Q, anh P bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số BE 823922, số vào sổ cấp giấy: CH00671 do UBND huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 02/5/2012 đứng tên bà Đỗ Thị Q.
-
Kể từ ngày Ngân hàng N có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Q, anh P không thanh toán số nợ nêu trên thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất diện tích đất là 706.8m², thuộc thửa đất 584, tờ bản đồ 6, địa chính xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 823922, số vào sổ cấp giấy: CH00671 do UBND huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 02/5/2012 đứng tên bà Đỗ Thị Q. Tài sản trên đã được bà Đỗ Thị Q thế chấp cho Ngân hàng N theo hợp đồng thế chấp số 2806NCT/2022 ngày 28/6/2022, số chứng thực 245, quyển số 01/2022 STC/HĐ, GD được UBND xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai chứng thực ngày 28/6/2022 để thu hồi tổng số tiền nợ vốn, nợ lãi.
Trường hợp tài sản thế chấp không đủ thanh toán toàn bộ nợ vay, bà Q, anh P vẫn phải có nghĩa vụ trả nợ đến khi thanh toán hết toàn bộ nợ vay.
- Về chi phí tố tụng: Buộc bà Đỗ Thị Q, anh Trần Mạnh P phải hoàn trả lại cho Ngân hàng N chi phí tố tụng về xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng.
-
Về án phí:
- - Bà bà Đỗ Thị Q, anh Trần Mạnh P phải chịu là 45.167.900 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- - Trả lại cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 22.211.800 đồng, theo biên lai thu số 0013149 ngày 14/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Các đương sự thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự; Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014).
- Ngân hàng N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Q, anh P có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bá Đại |
Bản án số 40/2024/DS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 40/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng N và bà Q, anh P
