TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG Bản án số: 40/2024/HNGĐ-ST Ngày: 14 - 5-2024 “V/v tranh chấp ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thanh Hùng,
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Châu Kim Ba;
- Ông Nguyễn Lâm Tới.
Thư ký phiên tòa: Ông Châu Kim Sol, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên tham gia phiên toà: Ông Đặng Phương Nam – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 372/2023/TLST-HNGĐ ngày 28/11/2023, về việc: “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2024/QÐST-HNGĐ ngày 16/4/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nèang Som B, sinh năm 1992; địa chỉ nơi cư trú: Tổ C, ấp V, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang;(có mặt).
- Bị đơn: Anh Chau P, sinh năm 1991; địa chỉ nơi cư trú: Tổ E, ấp V, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
· Người phiên dịch: Ông Lục Tà D – Phiên dịch viên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nèang Som B trình bày: Chị Nèang Som B và anh
Chau P kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A vào ngày 11/02/2011, theo giấy chứng nhận kết hôn số 40/2011 và tự nguyện sống chung, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian sau vợ chồng không chung sống hạnh phúc, thường xuyên cãi nhau, vợ chồng không thể hàn gắn đoàn tụ; Nay nhận thấy tình cảm không còn, và chị B đã có chồng khác, anh P có vợ khác, nên chị Nèang Som B yêu cầu ly hôn với Chau P.
Con chung: Trong thời gian chung sống, chị Nèang Som B và anh Chau P có 01 con chung tên Nèang Sa R, sinh ngày 30/11/2012, hiện đang sống chung với chị B, chị B yêu cầu được nuôi dạy con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi dạy con chung.
Tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không tiến hành hòa giải được, do anh Chau P vắng mặt.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát:
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 và Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự, tuy nhiên còn để án quá thời hạn chuẩn bị xét xử.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa: Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng nguyên đơn đã cơ bản thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định tại Điều 70, 71, 72 BLTTDS. Riêng, bị đơn anh Chau P chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định.
Ý kiến về giải quyết vụ án:
- Về hôn nhân: Chị Neàng Som B1 và anh Chau P tự nguyện sống chung với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T (hiện nay là thị xã T), tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 040/2011 ngày 11/12/2011 do Ủy ban nhân dân xã A cấp, nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận. Quá trình sống chung giữa hai vợ chồng có 01 con chung là Neàng Sa Ra, sinh ngày 30/11/2012, cháu R đang sống chung với chị B1, chị là người trực tiếp nuôi dưỡng. Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, đến năm 2012 giữa hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, chị B1 và anh P đã ly thân khi cháu R được 03 tháng tuổi. Từ khi sống ly thân đến nay, cả hai không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, điều đó
cho thấy tình cảm không còn, cuộc sống chung vợ chồng không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, việc chị B1 yêu cầu xin được ly hôn với anh P là có cơ sở để chấp nhận.
- Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng: Có 01 con chung tên Neàng Sa R1, sinh ngày 30/11/2012. Tại biên bản ghi nhận ý kiến ngày 04/01/2021, cháu Neàng Sa R1 trình bày nếu cha mẹ ly hôn, cháu có nguyện vọng được sống với chị B1 (mẹ). Do đó, cần xem xét giao con chung cho chị B1 trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, anh P không phải cấp dưỡng.
- Về tài sản, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn. Đồng thời, bị đơn cư trú trên địa bàn thị xã T. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do; nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2019.
[2] Về nội dung:
[2.1] Chị Nèang Som B và anh Chau P chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A vào ngày 11/02/2011, theo giấy chứng nhận kết hôn số 40/2011, nên được xem là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
Xét, vợ chồng phải thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, nhưng hiện tại chị Nèang Som B và anh Chau P đã không sống chung với nhau; theo kết quả xác minh tại địa phương, do chị B và anh P đi làm ăn xa, chỉ về nhà dịp lễ tết, nên địa phương không rõ mâu thuẫn gia đình của chị B và anh P; Tuy nhiên, Tòa án đã triệu tập hợp lệ để hòa giải mâu thuẫn gia đình giữa anh chị, nhưng anh P không có mặt và không có ý kiến gì về yêu cầu ly hôn của chị B; từ đó cho thấy hôn nhân giữa chị B và anh P không hạnh phúc, hiện nay chị B đã có chồng, anh P đã có vợ khác, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nèang
Som B và anh Chau P theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2.2] Chị Nèang Som B và anh Chau P trong thời kỳ hôn nhân có 01 con chung là cháu Nèang Sa R, sinh ngày 30/11/2012; Hiện cháu đã sống chung với chị B, cháu R cũng có nguyện vọng tiếp tục sống chung với chị B; nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi dạy của chị B, chị B không yêu cầu cấp dưỡng nuôi dạy con chung, nên không xem xét giải quyết.
[2.3] Chị Nèang Som B không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.4] Chị Nèang Som B phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; Anh Chau P không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N Som Bô với anh Chau P.
Chị Nèang Som B được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Nèang Sa R, sinh ngày 30/11/2012.
Chị Nèang Som B, cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Chau P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Chị Nèang Som B phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0010593 ngày 28 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên; Chị B đã nộp đủ án phí.
Anh Chau P không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Chị Nèang Som B được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Anh C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thanh Hùng |
Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 40/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Neang Som B yêu cầu ly hôn với anh Chau P
