|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 14 - 8 - 2024
V/v: Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thái Bảo Ngân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Thị Xuân Hương
2. Ông Huỳnh Văn Phi
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Thái Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 78/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 31/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thanh N - sinh năm 2002.
Nơi cư trú: Thôn P, xã D, huyện D, Khánh Hòa.
Bà N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Nhất T - sinh năm 1999
Nơi cư trú: Thôn C, xã S, huyện D, Khánh Hòa.
Ông T vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/3/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà Phan Thanh N trình bày: Bà và ông Nguyễn Nhất T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn ngày 20/6/2022 tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện D, tỉnh Khánh Hòa. Quá trình chung sống, vợ chồng bà sống không hạnh phúc, không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau về tính cách, bất đồng quan điểm sống. Ông T không có trách nhiệm với gia đình, không quan tâm đến vợ con. Cả hai đã cho nhau nhiều cơ hội để hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Từ cuối năm 2023 đến nay, vợ chồng bà không còn chung sống với nhau. Nay bà xác định không còn tình cảm với ông T, mâu thuẫn trầm trọng, nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Nhất T. Về con chung: Bà và ông T có 01 con chung là Nguyễn Nhật Khả H - sinh ngày 05/10/2022, bà yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Bà xác định bà và ông T không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Nhất T, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, không đến Tòa để làm việc.
- Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh: Kể việc tuân theo pháp luật tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng, bị đơn không đến Tòa làm việc. Về giải quyết nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thanh N. Về án phí: nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Phan Thanh N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Nhất T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[2] Xét nội dung yêu cầu khởi kiện:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thanh N và ông Nguyễn Nhất T tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 20/6/2022 và được Ủy ban nhân dân xã S, huyện D, tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn số 32/2022, đây là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà Phan Thanh N vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Nhất T. Ông T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến gì về yêu cầu ly hôn của bà N. Xét vợ chồng bà N, ông T đã không còn tình cảm và sống riêng từ cuối năm 2023 đến nay, không còn quan tâm đến cuộc sống chung vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà Phan Thanh N đối với ông Nguyễn Nhất T là có cơ sở để chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Bà N xác định bà và ông T có 01 con chung là Nguyễn Nhật Khả H - sinh ngày 05/10/2022. Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa và tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà N yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Xét hiện con chung đang sinh sống cùng bà N, do bà N chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Do đó, để đảm bảo việc nuôi dạy, chăm sóc và phát triển bình thường của con chung nên giao cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng con chung là phù hợp. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho ông T vì bà N không có yêu cầu. Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết, bà N và ông T đều có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết về thay đổi người trực tiếp nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà N xác định bà và ông T không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét.
[2.4] Về án phí: Bà Phan Thanh N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51 và 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các Điều 147, 227, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thanh N.
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thanh N được ly hôn với ông Nguyễn Nhất T.
- - Về con chung: Bà Phan Thanh N trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Nguyễn Nhật Khả H - sinh ngày 05/10/2022. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho ông T.
- Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết, bà N, ông T đều có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết về thay đổi người trực tiếp nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.
- - Về tài sản chung: Bà Phan Thanh N không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Bà Phan Thanh N phải nộp 300.000Đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí mà bà N đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001213 ngày 01/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Diên Khánh. Bà N đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thái Bảo Ngân |
Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn
- Số bản án: 40/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
