|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 40/2024/HSST Ngày: 14/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Cường.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Hà Nguyễn Minh Nam
2/ Ông Nguyễn Văn Lợi
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Minh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Tp tham gia phiên tòa:
Bà Võ Thị Thu Thuỷ – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 26/2024/TLST – HS ngày 15/3/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HS ngày 23/4/2024 đối với các bị cáo:
1. Bị cáo Phạm Thị Xuân H, sinh ngày 24/10/1958, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 622/6/12 N, Phường D, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 6 N, Phường D, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, nghề nghiệp: không, trình độ văn hoá (học vấn) 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Phú T (chết) và bà Lê Thị B (chết); có chồng Nguyễn Ngọc H1 (chết), và con Nguyễn Thanh H2, sinh năm 1993.
Tiền sự, Tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/9/2023 chuyển tạm giam từ ngày 01/10/2023 tại Nhà tạm giữ Công an quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Bị cáo H có mặt tại phiên tòa).
2. Bị cáo Bùi Quốc V, sinh ngày: 10/11/1997, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: A P, Phường C, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 1 T, Phường D, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không, trình độ văn hoá (học vấn) 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông (Không rõ) và bà Bùi Thị Ngọc T1, sinh năm 1978; chưa vợ, con.
Tiền sự, Tiền án: Không
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 21/9/2023, bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/9/2023, chuyển tạm giam từ ngày 01/10/2023 tại Nhà tạm giữ Công an quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nhân thân của bị cáo Bùi Quốc V:
Bị Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo bản án số 156/2018/HSST ngày 26/10/20218, Ngày 06/11/20219 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, ngày 07/3/20219 bị cáo đóng án phí hình sự sơ thẩm.
(Bị cáo V có mặt tại phiên tòa).
***
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau: Khoảng 11 giờ 50 ngày 21/9/2023, Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy theo dõi đối tượng Bùi Quốc V điều khiển xe mô tô 59V1 – 422.49 có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy trước số G N, phường D, quận P nên kiểm tra. Qua đó phát hiện V cất 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu tại túi quần trước bên trái (ký hiệu là m1).
Tại cơ quan điều tra, Bùi Quốc V khai nhận:
Vào khoảng 12 giờ ngày 21/9/2023, V từ nhà trọ ở số A T, phường D, quận P điều khiển xe máy đến địa chỉ 622/6/12 N, phường D, quận P để mua ma túy. Khi đến trước nhà, V dùng tay đập cửa và kêu “Má” bán 150.000 đồng ma túy đá thì có một người phụ nữ khoảng 60 tuổi ra đưa V 01 gói nylon chứa ma túy, V đưa tiền cho người này sau đó V điều khiển xe về phòng trọ để sử dụng nhưng bị công an kiểm tra khi đến trước số G N, phường D, quận P. Khi bị bắt giữ, công an cho nhận dạng và đối chất thì V biết đối tượng “Má” có tên là Phạm Thị Xuân H. V mua ma túy của H tổng cộng 02 lần, vào ngày 20/9/2023 và ngày 21/9/2023.
Công an quận P khám xét khẩn cấp nhà số F N, phường D, quận P, có mặt Phạm Thị Xuân H (sinh năm 1958) đã phát hiện tại phòng ngủ tầng trệt:
+ Vị trí dưới nền nhà cạnh cửa ra vào phòng ngủ có một hộp nhựa, bên ngoài in chữ số “555” bên trong có 03 gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu m2), 01 hộp giấy màu hồng, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu m2).
+ Vị trí dưới nền nhà, bên trong chiếc xe đồ chơi nhựa màu vàng có túi nylon màu đỏ chứa 01 cân tiểu ly màu đen và 20 túi nylon nhỏ chưa qua sử dụng.
+ Tại ngăn kệ sát tường, ngăn thứ hai từ dưới đếm lên có 01 nylon bên trong chứa tinh thể không màu (ký hiệu m2).
+ Tại góc kệ sát tường có 01 túi nylon màu đen chứa 05 ống thủy tinh, 01 đầu tròn được quấn giấy bên ngoài có cột thun màu vàng.
Tại cơ quan điều tra, Phạm Thị Xuân H khai nhận:
Vào khoảng 12 giờ ngày 21/9/2023 Phạm Thị Xuân H đang ở nhà số F N, phường D, quận P thì có một thanh niên đến nhà đập cửa, Phạm Thị Xuân H đi ra ngoài thì người này nói “Má” bán 150.000 đồng ma túy đá. Phạm Thị Xuân H đi vào nhà lấy 01 gói nylon chứa ma túy ra đưa người thanh niên và thu 150.000 đồng rồi người thanh niên bỏ đi. Một lát sau thì Công an vào nhà Phạm Thị Xuân H khám xét, thu giữ và niêm phong ma túy. Khi bị bắt giữ và cho nhận dạng, đối chất thì Phạm Thị Xuân H biết người mua ma túy vào khoảng 12 giờ ngày 21/9/2023 tên là Bùi Quốc V. Phạm Thị Xuân H bán ma túy được khoảng 03 tháng trước ngày bị bắt. H mua ma túy của một thanh niên không rõ lai lịch, hai đến ba ngày mua một lần, mỗi lần mua từ 700.000 đồng đến 1.200.000 đồng và thỏa thuận khi người thanh niên ném gói ma túy được quấn giấy và dán băng keo trong vào trong nhà thì Phạm Thị Xuân H ném 700.000 đồng, nếu dán băng keo đen thì Phạm Thị Xuân H ném 1.200.000 đồng ra. Sau đó Phạm Thị Xuân H chia nhỏ ma túy và bỏ vào túi nylon để bán lại. Hằng ngày, Phạm Thị Xuân H bán ma túy cho nhiều người nên không nhớ rõ lai lịch, thu lợi được khoảng 10.000.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân. Qua xét nghiệm H âm tính với ma túy.
Tại bản kết luận giám định tại số 10400/KL-KTHS ngày 29/9/2023 của Phòng K Công an Thành phố H:
Gói 1 được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Bùi Quốc V, Trần Đức S (người chứng kiến), Đỗ Minh H3 (điều tra viên) và hình dấu của Công an P, quận P bên trong gồm có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu m1): 0,1606 gam ma túy loại Methamphetamine.
Gói 5 được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Phạm Thị Xuân H, Đỗ Hiếu T2 (người chứng kiến), Nguyễn Anh T3 (Điều tra viên) và hình dấu Công an P, quận P bên trong gồm có 05 gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu m2): 9,0805 gam ma túy loại Methamphetamine.
Đồ vật, tài liệu bị thu giữ:
- 02 gói bao thư niêm phong ma túy còn lại sau giám định ghi vụ số 10400 (2067), gói 1, gói 2, gói 3 và chữ ký ghi tên Đại úy Bùi Công D (giám định viên), Nguyễn Khiếu Đình H4 (cán bộ điều tra).
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo, sim số 0928648337, số IMEI 1: 861428052219517, số IMEI 2: 0928648337 là đồ vật của Bùi Quốc V.
- 01 (một) xe mô tô Honda Wave màu bạc BS: 59V1 – 442.56 thu giữ của bị can Bùi Quốc V.
- 01 (một) hộp nhựa màu vàng bên ngoài in ba chữ số 555, 01 túi nylon màu đỏ, 20 túi nylon nhỏ chưa qua sử dụng, 05 ống thủy tinh một đầu tròn được quấn giấy bên ngoài cột dây thun màu vàng, 01 hộp giấy màu hồng, 01 một túi nylon màu đen, 01 cân tiểu ly: là đồ vật của bị can H dùng trong việc mua bán ma túy.
Ngày 21/9/2023, Bùi Quốc V bị bắt quả tang có hành vi tàng trữ 0,1606 gam Methamphetamine để bản thân sử dụng và khai mua ma túy của Phạm Thị Xuân H bị phát hiện tàng trữ 9,0805 gam Methamphetamine để bán lại kiếm lời. H khai bán ma túy được khoảng 03 tháng và đã bán nhiều lần. Tổng khối lượng ma túy H phải chịu trách nhiệm hình sự là 9,2411 gam Methamphetamine. Hành vi của các bị can là rất nguy hiểm, xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước và trật tự an toàn xã hội nên cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục đối với bị can và răn đe, phòng ngừa chung.
Tại bản cáo trạng số 25/CT – VKS.PN ngày 11 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố đối với:
Bị cáo Phạm Thị Xuân H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo Bùi Quốc V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận phát biểu và kết luận cáo trạng đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
Đối với bị cáo Bị cáo Phạm Thị Xuân H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Phạm Thị Xuân H mức án từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.
Xét hoàn cảnh của bị cáo Phạm Thị Xuân H, đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo.
Đối với bị cáo Bùi Quốc V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Xét hoàn cảnh của bị cáo Bùi Quốc V, đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo.
Về vật chứng và xử lý vật chứng:
Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy:
+ Gói 1 được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Bùi Quốc V, Trần Đức S (người chứng kiến), Đỗ Minh H3 (điều tra viên) và hình dấu của Công an P, quận P bên trong gồm có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu m1): 0,1606 gam ma túy loại Methamphetamine.
+ Gói 5 được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Phạm Thị Xuân H, Đỗ Hiếu T2 (người chứng kiến), Nguyễn Anh T3 (Điều tra viên) và hình dấu Công an P, quận P bên trong gồm có 05 gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu m2): 9,0805 gam ma túy loại Methamphetamine.
+ 02 gói bao thư niêm phong ma túy còn lại sau giám định ghi vụ số 10400 (2067), gói 1, gói 2, gói 3 và chữ ký ghi tên Đại úy Bùi Công D (giám định viên), Nguyễn Khiếu Đình H4 (cán bộ điều tra).
+ 01 (một) hộp nhựa màu vàng bên ngoài in ba chữ số 555, 01 túi nylon màu đỏ, 20 túi nylon nhỏ chưa qua sử dụng, 05 ống thủy tinh một đầu tròn được quấn giấy bên ngoài cột dây thun màu vàng, 01 hộp giấy màu hồng, 01 một túi nylon màu đen, 01 cân tiểu ly: là đồ vật của bị can H dùng trong việc mua bán ma túy.
+ 01 (một) xe mô tô Honda Wave màu bạc BS: 59V1 – 442.56 thu giữ của bị cáo Bùi Quốc V. Đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục đăng B1 và báo Công an Thành phố H trong khoảng thời hạn là 06 (sáu) tháng để tìm chủ sở hữu hợp pháp. Trường hợp không tìm thấy chủ sở hữu hợp pháp thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.
+ Trả lại cho bị cáo Bùi Quốc V 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo, sim số 0928648337, số IMEi 1: 861428052219517, số IMEI 2: 0928648337 là đồ vật của Bùi Quốc V, bị cáo khai không liên quan đến việc tàng trữ trái phép chất ma tuý điều này phù hợp với kết quả kiểm tra điện thoại không phát hiện chứa dữ liệu liên quan đến hành vi phạm tội.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05/4/2024 được lập tại kho Chi Cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Về trách nhiệm dân sự:
+ Quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên toà bị cáo Phạm Thị Xuân H thừa nhận trong khoảng thời gian 03 tháng mua bán trái phép ma tuý có số tiền thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma tuý khoảng 10.000.000 (mười triệu) đồng, bị cáo Phạm Thị Xuân H tình nguyện nộp lại cho Nhà nước số tiền trên.
+ Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Phạm Thị Xuân H vì trên 65 tuổi.
Lời nói sau cùng của các bị cáo tại phiên toà:
Bị cáo Bùi Quốc V, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo cảm thấy bị mức án cao, bị cáo thiếu hiểu biết pháp luật, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo kính mong Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo có cơ hội để sớm hòa nhập cộng đồng, trở về với gia đình và thực hiện các nghĩa vụ về án phí đối với Nhà nước.
Bị cáo Phạm Thị Xuân H, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” của mình, bị cáo là người lớn tuổi mà không làm chủ được bản thân, khi tạm giam thì chồng của bị cáo chết, con của bị cáo cũng bị khởi tố về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, bị cáo thực đánh mất bản thân, gia đình tan nát, tù tội, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo kính mong Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo có cơ hội để sớm hòa nhập cộng đồng, trở về với gia đình, thực hiện nghĩa vụ về án phí đối với Nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện là hợp pháp.
[2]. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra là phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của người làm chứng, đồng thời cũng phù hợp với các biên bản hoạt động điều tra như biên bản xác định địa điểm ngày 21/9/2023, biên bản ghi nhận sự việc, biên bản bắt người quả tang ngày 21/9/2023, biên bản bắt người bị giữ trong trường hợp quả tang ngày 21/9/2023, các bản ảnh từ việc thực nghiệm điều tra, biên bản làm việc ngày 22/9/2023, biên bản nhận dạng ngày 22/9/2023, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận của Phòng K Công an Thành phố H cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy, với các tình tiết đã được chứng minh tại phiên tòa hôm nay đã có đủ cơ sở để kết luận:
Ngày 21/9/2023, bị cáo Bùi Quốc V bị bắt quả tang có hành vi tàng trữ 0,1606 gam Methamphetamine để bản thân sử dụng và khai mua ma túy của bị cáo Phạm Thị Xuân H bị phát hiện tàng trữ 9,0805 gam Methamphetamine để bán lại kiếm lời. bị cáo Phạm Thị Xuân H khai bán ma túy được khoảng 03 tháng, đã bán nhiều lần, số tiền thu lợi bất chính là 10.000.000 (mười triệu) đồng. Tổng khối lượng ma túy bị cáo Phạm Thị Xuân H phải chịu trách nhiệm hình sự là 9,2411 gam Methamphetamine. Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm, xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước và trật tự an toàn xã hội nên cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung như Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận truy tố bị cáo Phạm Thị Xuân H, bị cáo Bùi Quốc V là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3]. Hành vi phạm tội mà bị cáo Bùi Quốc V thực hiện đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây ra sự nghiện ngập và mầm mống của các tệ nạn xã hội khác nhưng vì muốn có ma túy sử dụng nên bị cáo đã cố ý phạm tội, bị cáo Bùi Quốc V là thể hiện coi thường pháp luật nên áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội bị cáo đã thực hiện, số ma túy thu giữ, có xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo Bùi Quốc V là người sử dụng trái phép chất ma tuý lâu năm. Năm 2018 bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Nay bị cáo thoả mãn cơn nghiện ma tuý đã tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng trái phép tại nhà của bị cáo. Vì vậy cần cân nhắc, xem xét để đưa ra mức hình phạt cho phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
[4]. Hành vi phạm tội mà bị cáo Phạm Thị Xuân H chỉ vì muốn có tiền thu lợi bất chính mà bất chấp các quy định của pháp luật bị cáo Phạm Thị Xuân H thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm b khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là phù hợp với các tình tiết mà Viện kiểm sát truy tố.
Hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của bị cáo Phạm Thị Xuân H có trọng lượng 9,0805 gam Methamphetamine là phù hợp điểm i khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Khi áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội bị cáo đã thực hiện, số ma túy thu giữ, có xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
[5]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo khi lượng hình.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xem xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để cân nhắc khi lượng hình nhằm có bản án công tâm, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật nhưng cũng thể hiện được sự khoan hồng của Nhà nước nhằm giúp các bị cáo nhận thức, sửa đổi, tu chí chấp hành hình phạt tù, tái hòa nhập cộng đồng.
[6]. Về hình phạt bổ sung:
Căn cứ vào khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự xét thấy tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo Phạm Thị Xuân H không nghề nghiệp, không có thu nhập, tuổi cao (trên 65 tuổi) nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Thị Xuân H.
Căn cứ vào khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự xét thấy tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo Bùi Quốc V không nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập. Nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Bùi Quốc V.
[7]. Về xử lý vật chứng trong vụ án:
Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm, a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7.1]. Tịch thu tiêu huỷ:
- Gói 1 được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Bùi Quốc V, Trần Đức S (người chứng kiến), Đỗ Minh H3 (điều tra viên) và hình dấu của Công an P, quận P bên trong gồm có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu m1): 0,1606 gam ma túy loại Methamphetamine.
- Gói 5 được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Phạm Thị Xuân H, Đỗ Hiếu T2 (người chứng kiến), Nguyễn Anh T3 (Điều tra viên) và hình dấu Công an P, quận P bên trong gồm có 05 gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu m2): 9,0805 gam ma túy loại Methamphetamine.
- 02 gói bao thư niêm phong ma túy còn lại sau giám định ghi vụ số 10400 (2067), gói 1, gói 2, gói 3 và chữ ký ghi tên Đại úy Bùi Công D (giám định viên), Nguyễn Khiếu Đình H4 (cán bộ điều tra).
- 01 (một) hộp nhựa màu vàng bên ngoài in ba chữ số 555, 01 túi nylon màu đỏ, 20 túi nylon nhỏ chưa qua sử dụng, 05 ống thủy tinh một đầu tròn được quấn giấy bên ngoài cột dây thun màu vàng, 01 hộp giấy màu hồng, 01 một túi nylon màu đen, 01 cân tiểu ly: là đồ vật của bị cáo Phạm Thị Xuân H dùng trong việc mua bán ma túy.
Là phù hợp với quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Nên Hội đồng xét xử có căn cứ để tịch thu tiêu hủy.
[7.2]. Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
- 01 (một) xe mô tô Honda Wave màu bạc BS: 59V1 – 442.56 thu giữ của bị cáo Bùi Quốc V. Quá trình lấy lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra và tại phiên toà bị cáo khai mua của một người không rõ lai lịch và sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý. Qua xác minh chiếc xe trên do bà Nguyễn Thị Ngọc Q đứng tên chủ sở hữu, kết luận số khung, số máy không thay đổi. Theo kết quả xác minh của Công an phường 3 quận G thì bà Q không còn cư trú tại H N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh mà tạm trú tại địa chỉ căn hộ E Lô D đường N, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục đăng B1 và báo Công an Thành phố H trong khoảng thời hạn là 06 (sáu) tháng để tìm chủ sở hữu hợp pháp. Trường hợp không tìm thấy chủ sở hữu hợp pháp thì tịch thu sung quỹ Nhà nước là đúng các quy định của pháp luật và có cơ sở chấp nhận.
[7.3]. Trả lại cho bị cáo:
- Trả lại cho bị cáo Bùi Quốc V 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo, sim số 0928648337, số IMEI 1: 861428052219517, số IMEI 2: 0928648337 là đồ vật của bị cáo Bùi Quốc V, bị cáo khai không liên quan đến việc tàng trữ trái phép chất ma tuý điều này phù hợp với kết quả kiểm tra điện thoại không phát hiện chứa dữ liệu liên quan đến hành vi phạm tội. Nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo Bùi Quốc V.
[8]. Về trách nhiệm dân sự trong vụ án:
Theo diễn biến tại phiên toà bị cáo Phạm Thị Xuân H khai đã hơn hai lần bán ma tuý cho các đối tượng nghiện ma tuý trong khoảng thời gian 03 tháng, số tiền thu lợi bất chính 10.000.000 (mười triệu) đồng từ việc mua bán trái phép chất ma tuý phù hợp với quy định theo điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận việc tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng là số tiền thu lợi bất chính.
[9]. Quá trình điều tra và tại phiên toà chưa xác định được đối tượng bán ma tuý cho bị cáo Phạm Thị Xuân H. Nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
[10]. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Bùi Quốc V phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên toà bị cáo Phạm Thị Xuân H khai báo sinh ngày 24/10/1958 và làm đơn xin được áp dụng Điều 2 của Luật Người cao tuổi; Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm ngàn) đồng đối với bị cáo Phạm Thị Xuân H vì trên 65 tuổi là có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Căn cứ vào Điều 2 của Luật Người cao tuổi; Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1]. Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Xuân H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị Xuân H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/9/2023.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
[2]. Tuyên bố bị cáo Bùi Quốc V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Quốc V 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2023
[3]. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự trong vụ án:
Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3.1]. Về xử lý vật chứng trong vụ án:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ Gói 1 được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Bùi Quốc V, Trần Đức S (người chứng kiến), Đỗ Minh H3 (điều tra viên) và hình dấu của Công an P, quận P bên trong gồm có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu m1): 0,1606 gam ma túy loại Methamphetamine.
+ Gói 5 được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Phạm Thị Xuân H, Đỗ Hiếu T2 (người chứng kiến), Nguyễn Anh T3 (Điều tra viên) và hình dấu Công an P, quận P bên trong gồm có 05 gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu m2): 9,0805 gam ma túy loại Methamphetamine.
+ 02 gói bao thư niêm phong ma túy còn lại sau giám định ghi vụ số 10400 (2067), gói 1, gói 2, gói 3 và chữ ký ghi tên Đại úy Bùi Công D (giám định viên), Nguyễn Khiếu Đình H4 (cán bộ điều tra).
+ 01 (một) hộp nhựa màu vàng bên ngoài in ba chữ số 555, 01 túi nylon màu đỏ, 20 túi nylon nhỏ chưa qua sử dụng, 05 ống thủy tinh một đầu tròn được quấn giấy bên ngoài cột dây thun màu vàng, 01 hộp giấy màu hồng, 01 một túi nylon màu đen, 01 cân tiểu ly.
[3.2]. Về trách nhiệm dân sự trong vụ án:
- Giao cho Cơ quan Chi cục Thi hành án Dân sự quận Phú Nhuận đăng báo trong thời hạn 06 tháng tìm chủ sở hữu chiếc xe hiệu Honda Wave màu bạc BS: 59V1 – 442.56, số khung: RLHGC4319AY13615, số máy: JC43E-1218858. Trường hợp không tìm được chủ sở hữu hợp pháp thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Trả lại cho bị cáo Bùi Quốc V 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo, sim số 0928648337, số IMEi 1: 861428052219517, số IMEI 2: 0928648337.
- Buộc bị cáo Phạm Thị Xuân H nộp lại tiền thu lợi bất chính là 10.000.000 (mười triệu) đồng tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05/4/2024 được lập tại kho Chi Cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh).
[4]. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Buộc bị cáo Bùi Quốc V phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm ngàn) đồng đối với bị cáo Phạm Thị Xuân H.
[5]. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án để xin xét xử phúc thẩm. Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
[6]. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Cao Cường |
Bản án số 40/2024/HSST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 40/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: mua bán trái phép chất ma túy
