|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 40/2024/HS-ST Ngày 14-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hoa
Ông Phạm Ngọc Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đông Hải - Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 5 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thành H, sinh năm 1992 tại U, Kiên Giang; Nơi thường trú và cư trú: ấp M, xã A, huyện U, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 5/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn L và bà Ngô Thị Ú; vợ: Phan Thị G (đã ly hôn); con: có 01 người sinh năm 2014 (sống với cha); tiền án, tiền sự: không; Về nhân thân: Ngày 20-9-2011 bị Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang xử phạt 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số: 33/2011/HS-ST; Bị cáo bị bắt theo biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 05/6/2023, bị tạm giữ ngày 05/6/2023, chuyển tạm giam ngày 14/6/2023, cho bảo lĩnh tại ngoại ngày 25/7/2023 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- + Anh Trần Văn T, sinh năm 1982. Địa chỉ: ấp G Xáng I, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt);
- + Ông Vũ Ngọc T1 (S), sinh năm 1969. Địa chỉ: ấp T, xã A, huyện U, tỉnh Kiên Giang (có mặt);
- + Võ Văn C, sinh năm 1987. Địa chỉ: ấp M, xã A, huyện U, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt);
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Thanh L1, sinh năm 1978. Địa chỉ: ấp C, xã T, huyện U, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 01 giờ ngày 05/6/2023, bị can Nguyễn Thành H điều khiển xe mô tô màu xanh không gắn biển số một mình từ nhà trọ Đại Nam ở ấp G Chợ, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang đến phần đất nuôi tôm của ông Trần Văn T, ở ấp G Xáng I, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, quan sát thấy motor bơm nước của ông T không có người trông giữ, bị can H lén lút dùng chìa khóa tháo ốc vặn lấy trộm motor của ông T mang ra xe chở về nhà trọ cất giấu. Đến khoảng 07 giờ ngày 05/6/2023, bị can H mang motor lấy trộm được đến tiệm Đ để bán cái motor trên. Lúc này, nghi ngờ bị can H bán motor trộm cắp có được nên ông L1 điện thoại báo Công an đến bắt quả tang bị can Nguyễn Thành H cùng tang vật. Qua tiến hành mở rộng điều tra, bị can Nguyễn Thành H khai nhận trước đó đã thực hiện trót lọt 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện U, tỉnh Kiên Giang cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 01 giờ ngày 25/5/2023, bị can Nguyễn Thành H điều khiển xe mô tô đi từ ấp M, xã A, huyện U, tỉnh Kiên Giang đến nhà trọ Đại Nam thuộc ấp 7 Chợ, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, khi đến đoạn đường trước nhà của anh Võ Văn C ở ấp M, xã A, huyện U, bị can H quan sát thấy có 01 cái motor bơm nước được đặt cạnh mé sông, do không có tiền tiêu xài nên bị can H nảy sinh ý định lấy trộm cái motor để đem bán, quan sát không thấy ai trông giữ tài sản H lấy 01 cây kiềm và 01 chìa khóa 17 trong cốp xe lén lút mở ốc nền của motor, rồi mang motor để lên xe chạy về nhà trọ Đại Nam cất giấu. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, bị can H chở cái motor lấy trộm được đến tiệm Đ của ông Trần Thanh L1, ở ấp C, xã T, huyện U, tỉnh Kiên Giang để kêu bán với giá 1.500.000 đồng, ông L1 hỏi motor ở đâu mà có, thì bị can H trả lời của nhà đem bán do nuôi tôm thua lỗ, thì anh L1 đồng ý mua cái mottor trên với giá 1.500.000 đồng.
Vụ thứ hai: Khoảng 01 giờ ngày 30/5/2023, bị can Nguyễn Thành H điều khiển xe mô tô đến đoạn đường nhà ông Vũ Ngọc T1 thuộc ấp T, xã A, huyện U, tỉnh Kiên Giang, thì phát hiện có 01 cái motor đặt cạnh mé ao để bơm nước, thấy motor không có người trông coi nên H lấy chìa khóa 17 bằng kim loại và 01 cây kiềm để sẵn trong cốp xe mở ốc nền lấy trộm motor chở về nhà trọ Đại Nam cất giấu.
Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, bị can H điều khiển xe mô tô chở motor lấy trộm được đến tiệm Đ kêu bán với giá 2.000.000 đồng, ông L1 tiếp tục hỏi motor của ai thì bị can H nói là của H do nuôi tôm thua lỗ nên đem bán để lấy tiền đi Bình Dương làm. Sau khi mua cái motor do H bán xong, ông L1 kiểm tra lại thì thấy giống cái motor của ông L1 bán cho ông Vũ Ngọc T1 nên ông L1 điện báo cho Cơ quan Công an.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 12 ngày 16/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện U, tỉnh Kiên Giang kết luận: 01 cái motor màu xanh, loại 3.0 HP có giá trị là 3.000.000 đồng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 13 ngày 20/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện U, tỉnh Kiên Giang kết luận: 01 cái motor màu xanh, loại 5.0 HP có giá trị là 4.000.000 đồng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 23 ngày 20/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện A, tỉnh Kiên Giang kết luận: 01 cái motor màu xám, hiệu Toshiba, loại 5.0 HP có giá trị là 2.800.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản mà bị can Nguyễn Thành H trộm cắp là 9.800.000 đồng (Chín triệu tám trăm nghìn đồng).
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện A đã tạm giữ: 03 cái motor là vật chứng của vụ án, sau khi phục vụ cho công tác định giá Cơ quan điều tra đã trả lại cho những người bị hại.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và đã được bồi thường đầy đủ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì thêm.
Tại Cáo trạng số 86/CT-VKS-AM ngày 02-11-2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Nguyễn Thành Hảo về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- Kiểm sát viên kết luận bị cáo Nguyễn Thành H phạm tội trộm cắp tài sản và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành H từ .09 đến 12 tháng tù; về vật chứng đã giao trả lại cho bị hại; về trách nhiệm dân sự, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì nên đề nghị không xem xét.
- Bị cáo Nguyễn Thành H thừa nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đúng như nội dung Cáo trạng và luận tội đã nêu. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân gây ra, xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Bị hại anh T1: TNDS không yêu cầu gì; về TNHS yêu cầu Tòa án xử lý nghiêm khắc để răn đe.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị hại C, T và người có liên quan L1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Thấy họ đã có lời khai rõ ràng, không yêu cầu bồi thường thêm nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[2] Về hành vi phạm tội, tội danh:
[2.1] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Từ ngày 25/5/2023 đến ngày 05/6/2023 Nguyễn Thành H đã 03 lần thực hiện hành vi lén lút lấy trộm tài sản của người khác cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 01 giờ ngày 25/5/2023 tại ấp M, xã A, huyện U, Kiên Giang lấy trộm 01 cái motor, loại 3HP, màu xanh của anh Võ Văn C được định giá có giá trị là 3.000.000 đồng.
Vụ thứ hai: Vào khoảng 01 giờ ngày 30/5/2023 tại ấp T, xã A, huyện U, Kiên Giang lấy trộm 01 cái motor, loại 5HP, màu xanh của ông Vũ Ngọc T1 được định giá có giá trị là 4.000.000 đồng.
Vụ thứ ba: Vào khoảng 01 giờ ngày 05/6/2023 tại ấp G Xáng I, xã Đ, huyện A, Kiên Giang lấy trộm 01 cái motor, hiệu Toshiba, 5HP, công suất 3,7KW của ông Trần Văn T được định giá có giá trị là 2.800.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của anh C, ông T1 và ông T theo kết luận định giá có giá trị là 9.800.000 đồng.
[2.2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của bị hại; Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; có khả năng nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện nên thuộc trường hợp phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; bị cáo thực hiện hành vi lén lút để chiếm đoạt tài sản và tài sản bị cáo chiếm đoạt có tổng giá trị là 9.8000.000 đồng.
Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Nguyễn Thành H phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Về hình phạt:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Bị cáo 03 lần thực hiện hành vi phạm tội và cả 03 lần đều đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự, do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, gây tâm lý lo lắng, bất an và ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất trong nhân dân. Do đó, HĐXX cần xử phạt bị cáo hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội bị cáo đã gây ra, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; bị hại ông T có đơn xin bãi nại cho bị cáo. HĐXX xác định đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[3.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng nhưng gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản tuy đã được xóa án tích nhưng sau đó liên tiếp thực hiện hành vi phạm tội trong nhiều ngày nên cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định. Khi quyết định mức hình phạt thấy bị cáo phạm tội nhiều lần, có nhân thân xấu; hành vi xâm phạm đến công cụ lao động và làm ảnh hưởng hoạt động sản xuất, đời sống người dân nên cần xử phạt nghiêm khắc là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đã khắc phục xong, không ai yêu cầu gì nên không xét.
[5] Về vật chứng, đã xử lý xong.
[6] Về án phí, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành H phạm tội Trộm cắp tài sản.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành H 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/6/2023 đến ngày 25/7/2023.
2- Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đã khắc phục xong, không ai yêu cầu gì nên không xét.
3- Về vật chứng, đã xử lý xong.
4- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Nguyễn Thành H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5- Bị cáo, bị hại (T1), người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 14-5-2024). Bị hại (T, C), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (L1) vắng mặt nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 40/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành H phạm tội Trộm cắp tài sản
