|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 40/2024/HS-ST Ngày 13-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hùng Cường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Bé.
Ông Nguyễn Hữu Phúc.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Nhàn, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lê Kim Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp (điểm cầu trung tâm) và Công an huyện T, tỉnh Đồng Tháp (điểm cầu thành phần) xét xử phiên tòa trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Mai Thị Loan E, sinh năm 1974, tại tỉnh Đồng Tháp; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn T (chết) và bà Lê Thị B (chết); có chồng Nguyễn Văn D, sinh năm 1969 và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên toà (điểm cầu thành phần).
Người bị hại: Nguyễn Thị H, sinh năm 1950 (chết);
Địa chỉ: khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị H:
- Nguyễn Thị P, sinh năm 1970 (con ruột)
- Nguyễn Thị P1, sinh năm 1982 (con ruột).
- Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1985 (con ruột).
Địa chỉ: khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
(Nguyễn Thị P, Nguyễn Thị P1 và Nguyễn Văn Đ cùng ủy quyền cho Hồ Thị Cẩm T1, sinh năm 1999; địa chỉ: khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp theo Giấy ủy quyền ngày 26/6/2024), có mặt (tại điểm cầu trung tâm).
Người làm chứng:
- Nguyễn Thị C, sinh năm 1990 (vắng mặt).
Địa chỉ: khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. - Võ Thị Kim Y, sinh năm 2002 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người chứng kiến:
Đinh Xuân T2, sinh năm 1989 (vắng mặt).
Địa chỉ: khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trước Tết nguyên đán 2024 khoảng 10 ngày (không nhớ ngày cụ thể), Mai Thị L Em làm công việc phụ giúp việc trong nhà bà Nguyễn Thị H. Bà H đang bị bệnh, nằm võng ở bên ngoài phòng ngủ và kêu L Em thay ga giường trong phòng ngủ, L Em vào phòng thay ga, thấy bản lề cánh cửa tủ (loại tủ hộp ở đầu giường) bị sụp vào trong nên lấy chìa khóa của tủ hộp do bà H để trong rổ thuốc ở đầu giường mở cửa tủ hộp, thấy có nhiều cọc tiền để trong 01 bọc nylon màu xanh, L Em lấy trộm 01 cọc tiền bỏ vào túi áo khoác bên phải, sau đó dùng tay đẩy bản lề cửa tủ ra, đóng và khóa cửa tủ lại, để chìa khóa cửa tủ hộp về vị trí như ban đầu. Khi thay ga xong, L Em đem ga cũ ra ngoài, đi xuống kho phía sau nhà bà H và lấy tiền trộm được ra đếm được tổng cộng 21.000.000đồng (gồm 42 tờ tiền mệnh giá 500.000đồng), L Em giấu tiền lại trong túi áo khoác, đi vào phòng ngủ của bà H cất tiền trộm được vào túi đựng quần áo của L Em rồi tiếp tục sinh hoạt bình thường. Vài ngày sau, L Em lấy tiền trộm được đến tiệm V thuộc khóm B, thị trấn T, huyện T mua 01 dây chuyền vàng trị giá 11.820.000đồng, đeo trên người. Khoảng 04-05 ngày sau, L Em lấy 8.000.000đồng và dây chuyền vàng trên trả và trừ cấn nợ cho 02 nam thanh niên (không rõ họ, tên, địa chỉ cụ thể), còn lại khoảng 2.000.000đồng L Em tiêu xài cá nhân hết.
Đến ngày 11/02/2024 (mùng 02 tết âm lịch), bà H mở tủ hộp đầu giường, phát hiện bị mất trộm số tiền 45.500.000đồng nên hỏi chị Hồ Thị Cẩm T1 (con dâu bà H) và anh Nguyễn Văn Đ (con ruột bà H), chị T1 và anh Đ đều trả lời không biết. Bà H kêu chị T1 trình báo Công an dùm nhưng do thời điểm này bà H bị bệnh nặng nên chị T1 không trình báo. Đến ngày 27/3/2024, bà H bị bệnh chết. Đến ngày 25/4/2024 được sự ủy quyền của gia đình bà H nên chị T1 đến Công an trình báo vụ mất trộm tiền nêu trên.
Tại Biên bản đối chất ngày 11/7/2024, Hồ Thị Cẩm T1 (con dâu bà H) cho rằng bà H bị mất 45.500.000đồng nhưng Mai Thị Loan E thừa nhận chỉ lấy trộm của bà H 21.000.000đồng. Xét thấy lời trình bày của chị T1 không có cơ sở vì chị T1 chỉ nghe bà H1 nói lại bị mất số tiền 45.500.000đồng, ngoài ra chị T1 không có chứng cứ chứng minh về việc bà H bị mất số tiền trên. Đối với lời trình bày của bị cáo Loan E là có cơ sở nên xác định bị cáo thực hiện lấy trộm 21.000.000đồng.
Biên bản thực nghiệm điều tra ngày 24/7/2024, tại nhà bà Nguyễn Thị H thuộc khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, thể hiện: phòng ngủ có 01 cửa chính, không có cửa sổ. Trong phòng có đặt 01 giường ngủ kích thước 2m x 1,8m. Đầu giường có 02 tủ hộp, đều có ổ khóa cửa tủ. Tại vị trí đầu giường để 01 rổ nhựa, màu đỏ, bên trong có để chìa khóa của tủ hộp đầu giường. Tiến hành cho Loan E thực hiện hành vi dùng tay cắm chìa khóa vào tủ hộp đầu giường; dùng tay mở cửa tủ hộp đầu giường; dùng tay đưa vào tủ lấy tiền; để tiền vào túi áo khoác; dùng tay đóng cửa tủ hộp đầu giường; lấy chìa khóa để lại rổ nhựa như ban đầu.
Vật chứng thu giữ gồm: Thu giữ của chị Hồ Thị Cẩm T1 01 rổ nhựa dùng để đựng chìa khóa mở tủ hộp đầu giường đã trả cho chị T1 nhận xong; 01 giấy chứng nhận sản phẩm của tiệm V giao nộp.
Tại Cáo trạng số: 39/CT-VKSTN ngày 11 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông đã truy tố bị cáo Mai Thị L Em phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo Loan E về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Mai Thị Loan E, phạm tội “Trộm cắp tài sản” mức hình phạt từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 24/7/2024 chị Hồ Thị Cẩm T1 người đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại yêu cầu bị cáo L Em trả lại số tiền 45.500.000đồng lấy trộm, bị cáo L Em chỉ thừa nhận lấy trộm số tiền 21.000.000 đồng và đã bồi thường xong 21.000.000đồng do chị Cẩm T1 nhận. Tuy nhiên, tại phiên tòa chị T1 cho rằng không có chứng cứ nào khác nên đồng ý bị cáo trộm số tiền 21.000.000đồng và chị T1 đã nhận tiền do bị cáo nộp bồi thường xong nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tuyên tịch thu lưu vào hồ sơ vụ án 01 giấy chứng nhận sản phẩm của tiệm V giao nộp.
Bị cáo Mai Thị Loan E thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản” như nội dung cáo trạng đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên, không tham gia tranh luận với Kiểm sát viên. Bị cáo chỉ thừa nhận lấy trộm số tiền là 21.000.000đồng và đã bồi thường xong, không đồng ý lấy trộm số tiền là 45.500.000đồng như trình bày của chị T1.
Người đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại, chị Hồ Thị Cẩm T1 trình bày: Trước đây, chị nghe mẹ chồng là Nguyễn Thị H kể vào ngày 11/02/2024, bà H mở tủ hộp đầu giường ngủ của bà H thì phát hiện mất trộm số tiền là 45.500.000đồng nên có hỏi chị T1 và anh Đ (con ruột bà H) biết số tiền này không, chị T1 và anh Đ đều không biết. Sau đó, bà H có kêu chị T1 đi báo công an dùm nhưng thời điểm này bà H bị bệnh nặng nên chị T1 chưa trình báo. Sau khi bà H chết vào ngày 27/3/2024 chị T1 đến công an trình bào. Quá trình điều tra, phát hiện bị cáo Loan E lấy trộm nên chị T1 đại diện gia đình bị hại yêu cầu bị cáo L Em bồi thường số tiền 45.500.000đồng. Tại phiên tòa, chị T1 cho rằng không có chứng cứ nào khác chứng minh bị cáo trộm số tiền 45.500.000đồng nên đồng ý bị cáo trộm số tiền 21.000.000đồng và chị T1 đã nhận tiền do bị cáo nộp bồi thường xong, không có yêu cầu gì thêm. Về trách nhiệm hình sự đề nghị Tòa án xử lý theo quy định pháp luật.
Lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình vi phạm pháp luật là sai nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Người làm chứng chị C, chị Y vắng mặt tại phiên toà không có lý do; riêng người chứng kiến anh T2 có đơn xin vắng mặt. Đối với người chứng kiến, người làm chứng đã có lời khai trình bày tại Cơ quan điều tra và lưu trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt người chứng kiến, người làm chứng theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản xác định hiện trường, Sơ đồ hiện trường và Bản ảnh cùng ngày 26/4/2024 của Công an huyện T; Biên bản thực nghiệm điều tra và Bản ảnh cùng ngày 24/7/2024 của Công an huyện T; Lời khai đại diện gia đình bị hại, người làm chứng, cùng toàn bộ chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào trước Tết Nguyên đán năm 2024 khoảng hơn 10 ngày, bị cáo Mai Thị L Em do cần tiền tiêu xài cá nhân, lợi dụng sự sơ hở, thiếu cảnh giác của bị hại nên tại nhà bà Nguyễn Thị H thuộc khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo đã lén lút lấy trộm số tiền 21.000.000đồng của bà H. Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản nêu trên. Do đó, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Hành vi của bị cáo là xem thường pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác trái pháp luật, ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo biết rõ nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Ngoài ra, với bản tính lười lao động, mong muốn có tiền nhanh để tiêu xài thỏa mãn bản thân nên đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản đã nêu trên. Căn cứ vào nhân thân, tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tương xứng để ngăn ngừa, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bồi thường thiệt hại xong; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn và là lao động phổ thông, nhận thức pháp luật hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Hình phạt bổ sung: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa xét thấy bị cáo làm thuê thu nhập thấp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình bị hại chị T1 cho rằng bị cáo L Em lấy trộm số tiền là 45.500.000đồng. Tại phiên tòa, chị T1 cho rằng không có chứng cứ nào khác chứng minh bị cáo lấy trộm số tiền 45.500.000đồng nên đồng ý bị cáo trộm số tiền 21.000.000đồng và chị T1 đã nhận tiền do bị cáo nộp bồi thường xong, không có yêu cầu gì thêm. Xét thấy, quá trình điều tra cũng như tại phiên chứng minh bị cáo trộm cắp tài sản số tiền là 21.000.000đồng và đã bồi thường cho đại diện gia đình bị hại nhận xong nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng của vụ án:
Đối với 01 giấy chứng nhận sản phẩm ngày 09/02/2024 của tiệm V giao nộp. Xét thấy, đây là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên tiếp tục lưu hồ sơ vụ án là phù hợp.
[8] Đối với số tiền 8.000.000đồng và sợi dây chuyền mua tại tiệm V (thuộc khóm B, thị trấn T, huyện T), bị cáo Loan E khai đã trả và cấn trừ nợ cho hai thanh niên (không rõ họ, tên địa chỉ cụ thể nên). Cơ quan điều tra, không làm việc được và không thu hồi được nên không xem xét giải quyết.
[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tại phiên tòa là có cơ sở, phù hợp với nhận định nêu trên nên chấp nhận.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51;
Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Mai Thị Loan E phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Mai Thị L Em 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án.
-
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và
điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Mai Thị L Em phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo, đại diện bị hại có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hùng Cường |
Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 40/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
