Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 40/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 13 - 6 - 2024

“V/v tranh chấp hôn nhân và

gia đình, ly hôn, nuôi con chung"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lư Thị Châu Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bằng và ông Lê Châu Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Trí, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Vân, Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 410/2023/TLST- HNGĐ ngày 12/12/2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2024/QĐXXST-HN ngày 20/5/2024 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 12/TB-TA ngày 31/5/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1998; nơi cư trú: Số C, ấp B, xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn: Ông Phạm Ngọc T, sinh năm 1992; nơi cư trú: Số F, khóm M, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc D trình bày:

Năm 2019, bà D và ông T tự tìm hiểu yêu thương nhau và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cải vã nhau, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do ông T gia trưởng và thường xuyên bạo lực với bà D. Bà D về nhà cha mẹ sống từ 2022 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên bà D yêu cầu được ly hôn với ông T.

Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có 01 đứa con chung tên Phạm Ngọc Bảo T1, sinh ngày 03/3/2021. Hiện con chung đang sống với bà D; bà D yêu cầu tiếp tục nuôi dạy con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Phạm Ngọc T trình bày: Ông T thống nhất về điều kiện tiến đến hôn nhân như lời trình bày của bà D; ông thừa nhận vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không hòa hợp, hiện vợ chồng đã sống ly thân, nên ông đồng ý ly hôn với bà D. Ông T thống nhất không có tài sản chung, nợ chung với bà D. Riêng, đối với yêu cầu nuôi con của bà D thì ông không đồng ý và có yêu cầu được nuôi con chung Phạm Ngọc Bảo T1, sinh ngày 03/3/2021; không yêu cầu bà D cấp dưỡng nuôi con.

Tòa án tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải giữa các đương sự, nhưng không thành.

Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn giữ nguyên yêu cầu.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

+ Về Hôn nhân: Bà D và ông T tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre nên được xem là hôn nhân hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng. Xét, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và sống chung với nhau. Tuy nhiên, trong thời kỳ hôn nhân giữa bà D với ông T phát sinh mâu thuẫn và không còn sống chung với nhau nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Trong thời gian sống ly thân từ khoảng tháng 10/2022 đến nay, vợ chồng không thể hàn gắn tình cảm gia đình. Nay bà D yêu cầu ly hôn thì ông T đồng ý. Cho nên, bà D yêu cầu được ly hôn với ông T là có căn cứ chấp nhận.

+ Về con chung: Bà D và ông T xác định có 01 con chung tên Phạm Ngọc Bảo T1, sinh ngày 03/3/2021. Hiện, Bảo T1 đang do bà D nuôi dưỡng. Bà D và ông T đều có yêu cầu được nuôi con. Xét thấy, con chung Bảo T1 đang do bà D nuôi dưỡng; cháu là con gái, vừa tròn 03 tuổi cần được mẹ gần gủi, chăm sóc. Do đó, để ổn định tâm lý và bảo đảm quyền lợi về mọi mặt cho con, nên giao cho bà D được tiếp tục nuôi dưỡng; ghi nhận sự tự nguyện của bà D về việc không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung; ông T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, bà D và thành viên gia đình không được cản trở theo quy định tại các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Bà D và ông T không yêu cầu giải quyết nên không đề cập.

Đối với việc bà D có yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật, nhưng tại phiên tòa bà D rút lại yêu cầu này. Xét việc bà D rút lại một phần yêu cầu khởi kiện là sự tự nguyện, phù hợp quy định pháp luật nên cần đình chỉ theo quy định tại Điều 244 BLTTDS năm 2015.

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc D được ly hôn với ông Phạm Ngọc T; bà Nguyễn Ngọc D được nuôi con chung Phạm Ngọc Bảo T1, sinh ngày 03/3/2021; ông Phạm Ngọc T không cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn. Bị đơn cư trú trên địa bàn thành phố C. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

[2] Về quan hệ hôn nhân, nguyên đơn và bị đơn kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre (giấy chứng nhận kết hôn số 23, cấp ngày 26/4/2021) nên được xem là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.

Bà D yêu cầu ly hôn ông T, ông T đồng ý ly hôn với bà D. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà D được ly hôn với ông T.

[3] Về con chung: Bà D, ông T có 01 con chung tên Phạm Ngọc Bảo T1, sinh ngày 03/3/2021 hiện con đang sống chung với bà D. Bà D, ông T đều yêu cầu được quyền nuôi dạy cháu Bảo T1 đến thành niên. Tuy nhiên, cháu Bảo T1 được bà D chăm sóc từ nhỏ đến nay, bà D có công ăn việc làm, thu nhập ổn định, do đó, để đảm bảo ổn định cho cháu, xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao cháu Bảo T1 cho bà D tiếp tục nuôi dạy đến thành niên.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà D có yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật, nhưng tại phiên tòa bà D rút lại yêu cầu này. Do đó, đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà D, ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét giải quyết.

[6] Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

  • - Bà D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tạm ứng án phí đã nộp, bà D không phải nộp thêm án phí.
  • - Bị đơn không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147, Điều 244, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc D;

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc D được ly hôn ông Phạm Ngọc T.
  2. Bà Nguyễn Ngọc D được quyền nuôi dạy con chung Phạm Ngọc Bảo T1, sinh ngày 03/3/2021 cho đến khi thành niên và có khả năng lao động. Ông Phạm Ngọc T không cấp dưỡng nuôi con chung.
  3. Bà D cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
  4. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
  5. Đình chỉ yêu cầu của bà Nguyễn Ngọc D yêu cầu ông Phạm Ngọc T cấp dưỡng nuôi con chung.
  6. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:
    • Bà Nguyễn Ngọc D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003083 ngày 12 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc; bà D đã nộp đủ án phí.
    • Bà Phạm Ngọc T không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
  7. Về quyền kháng cáo:
    • Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà D, ông T có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
    • Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh An Giang (1);
  • - Viện kiểm sát ND Tỉnh (1)
  • - Viện kiểm sát TPCĐ (1);
  • - Thi hành án DS TPCĐ (1);
  • - Các đương sự;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu hồ sơ (1),
  • - Lưu văn phòng (1)

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lư Thị Châu Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 40/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger