TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2024/HSST Ngày 13 – 5 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Mạnh Chiến
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Xuân Giới
- Ông Trần Văn Nam
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa:Ông Phạm Công Hoàng - Kiểm sát viên.
- Những người hỗ trợ tổ chức phiên tòa tại điểm cầu thành phần:
- Ông Phạm Văn Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
- Ông Bùi Tuấn Ninh – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
Ngày 13 tháng 5 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí và điểm cầu thành phần phòng xử án trực tuyến Nhà tạm giữ Công an thành phố Uông Bí. Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Thế A
Sinh ngày 06 tháng 01 năm 2000; tại thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
Nơi cư trú: Thôn B, xã BD, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Thành T và bà: Nguyễn Thị T; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2023; hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đông Triều. Có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Hoàng Xuân D
Sinh ngày 15 tháng 8 năm 1995; tại thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
Nơi cư trú: Thôn T, xã A, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Xuân H (đã chết) và bà: Nguyễn Thị T; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có.
Nhân thân: Ngày 21/8/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương, xử phạt 27 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 26/4/2019 chấp hành xong bản án.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2023; hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đông Triều. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có mối quan hệ xã hội và chơi với nhau nên Hoàng Xuân D biết Nguyễn Thế A có bán ma túy (loại thực vật khô), đến trưa ngày 10/12/2023 D gọi điện thoại cho Nguyễn Thế A hỏi mua 500.000₫ ma túy (loại thực vật khô) thì được Nguyễn Thế A đồng ý và hẹn đến nhà lấy. Thỏa thuận xong D đến nhà Nguyễn Thế A và vào trong phòng ngủ. Tại đây D đưa cho Nguyễn Thế A 500.000đ và nhận lại 01túi nilon bên trong chứa nhiều sợi thực vật khô. Sau khi mua được ma túy D cất vào túi áo khoác đang mặc, rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà lấy số ma túy mua được chia thành nhiều túi nilon nhỏ, mục đích vừa để sử dụng và bán lại.
Đến khoảng 16 giờ ngày 16/12/2023 Bùi Thanh S có nhu cầu mua ma túy sử dụng đã gọi điện thoại cho Nguyễn Thế A hỏi mua ma túy, thì được A giới thiệu cho D, S gọi điện thoại hỏi D mua 500.000₫ ma túy, được D đồng ý và hẹn đến đoạn đường gần khu vực đền S thuộc thôn T, xã A, thị xã Đông Triều để nhận ma túy. D lấy 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa ma túy (loại thực vật khô) cất vào túi áo khoác đang mặc rồi đi đến chỗ hẹn, khi đang trên đường đi thì gặp S tại khu vực cổng làng thôn BD, xã A, tại đây D đã bán cho Sơn 01 túi nilon ma túy (loại thực vật khô) với giá 500.000₫, S cất số ma túy vừa mua được vào trong túi áo khoác và đi đến khu vực đồi M, thôn Đ, xã A thì bị cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện thu giữ 01 túi nilon màu trắng kích thước (15,5 x 10)cm bên trong chứa thực vật khô.
Cùng ngày cơ quan Công an thị xã Đông Triều tiến hành bắt, giữ và khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Xuân D và Nguyễn Thế A.
Thu giữ tại phòng ngủ của Hoàng Xuân D: 01 hộp bìa giấy cứng kích thước (20,5 x 15x 04)cm, bên ngoài màu đỏ, mặt trên hộp có dòng chữ BẢO TÍN MINH CHÂU; GIỮ TÍN NHIỆM HƠN VÀNG; Since 1989, bên trong hộp có 12 túi nilon cùng kích thước (8,7 x 4,8)cm, trong mỗi túi đều chứa thực vật khô màu xanh nâu; Thu giữ trong túi vải màu đen 01 túi nilon kích thước (8,7 x 4,8)cm bên trong chứa thực vật khô màu xanh nâu; 01 cân tiểu ly bằng nhựa màu trắng hình bầu dục; số tiền 1.511.000₫ và 01 điện thoại Sam sung Galaxy S10+.
Thu giữ tại nhà Nguyễn Thế A trong chiếc khay bằng nhựa kích thước (22,5 x 13,7 x 6,8)cm có 01 túi nilon kích thước (18,8 x 12)cm chứa thực vật khô màu xanh nâu; 01 cân tiểu ly màu trắng; 05 túi nilon cùng kích thước (04 x 7,5)cm; 01 điện thoại Iphone 12 Pro Max.
Bản kết luận giám định số 8156/KL-KTHS ngày 19/12/2023, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội, kết luận:
Thực vật khô màu xanh nâu thu giữ của Bùi Thanh S gửi giám định là chất ma túy, loại MDMB – 4en - PINACA, khối lượng 6,741 gam.
Thực vật khô màu xanh nâu bên trong 13 túi nilon màu trắng thu giữ của Hoàng Xuân D gửi giám định là chất ma túy, loại MDMB – 4en - PINACA, tổng khối lượng 17,744gam.
Thực vật khô màu xanh nâu bên trong 01 túi nilon màu trắng thu giữ của Nguyễn Thế A gửi giám định là chất ma túy, loại MDMB – 4en - PINACA, khối lượng 9,791 gam.
(MDMB – 4en – PINACA, nằm trong danh mục II; STT:241;Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ Ban hành danh mục các chất ma túy và tiền chất).
Bản cáo trạng số 30/CT-VKSĐT ngày 11/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, đã truy tố bị cáo Nguyễn Thế A và Hoàng Xuân D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thế A từ 30 đến 33 tháng tù; bị cáo Hoàng Xuân D từ 27 đến 30 tháng tù; vật chứng tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định, cân tiểu ly, vỏ túi nilon, tịch thu điện thoại và số tiền 500.000đ; trả lại cho bị cáo số tiền tiền 1.011.000đ; buộc bị cáo Nguyễn Thế A phải nộp lại số tiền 500.000đ.
Quá trình khai báo các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, việc bị đưa ra xét xử là đúng người, đúng pháp luật, việc khai báo tự nguyện không bị ép buộc. Số lượng ma túy bị thu giữ của bị cáo Hoàng Xuân D mua của Nguyễn Thế A; số lượng ma túy thu giữ của bị cáo Nguyễn Thế A là mua của người không quen biết qua mạng xã hội Facebook, mục đích để sử dụng và bán lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đông Triều, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bảo đảm các quyền, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội:
Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thế A thể hiện buổi trưa ngày 10/12/2023 bị cá có bán ma túy (loại thực vật khô) cho Hoàng Xuân D với giá 500.000đ, được đựng trong 01 túi nilon bên có nhiều sợi thực vật khô, khối lượng 24,485 gam, sau khi mua được số ma túy này D chia thành nhiều túi nilon nhỏ để sử dụng và bán lại kiếm lời. Khoảng 16 giờ ngày 16/12/2023 Bùi Thanh S gọi điện hỏi A mua ma túy do còn ít để sử dụng, A đã giới thiệu S gọi điện thoại hỏi D mua ma túy, Dương đồng ý và bán cho Sơn 01 túi nilon ma túy (loại thực vật khô) với giá 500.000₫.
Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh và phù hợp với lời khai của người làm chứng Bùi Thanh S về việc mua ma túy của Hoàng Xuân D; phù hợp với lời khai của người chứng kiến Trần Văn P và Vũ Văn T về việc chứng kiến cơ quan Công an kiểm tra phát hiện bắt, thu giữ vật chứng của bị cáo; Phù hợp với sơ đồ hiện trường, bản ảnh xác định hiện trường, biên bản kiểm tra hành chính đối với Bùi Thanh S lập hồi 17 giờ 30 phút ngày 16/12/2023 vàbản kết luận giám định chất ma túy số 8156/KL-KTHS ngày 19/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội.
Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Như vậy có căn cứ kết luận vào khoảng trưa ngày 10/12/2023, tại thôn B, xã BD, thị xã Đông Triều, Nguyễn Thế A đã có hành vi bán trái phép 24,485 gam ma túy, loại MDMB – 4en – PINACA cho Hoàng Xuân D với giá 500.000đ. Sau đó đến khoảng 17 giờ ngày 16/12/2023, tại thôn Bãi Dài, xã An Sinh, thị xã Đông Triều, Hoàng Xuân D có hành vi bán trái phép 6,741 gam ma túy, loại MDMB – 4en – PINACA cho anh Bùi Thanh S với giá 500.000đ để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.
Ngoài ra Nguyễn Thế A còn có hành vi tàng trữ trái phép 9,791 gam ma túy, loại MDMB – 4en – PINACA, mục đích để sử dụng.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Thế A và Hoàng Xuân D đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 Điều 251 quy định: Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm;
[3] Tính chất mức độ, hành vi phạm tội:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, ma túy là hiểm họa và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm xã hội khác. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với xã hội cũng như đối với sức khỏe, nhưng đã bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, cất giữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích bán lại kiếm lời và thỏa mãn việc sử dụng ma túy của bản thân. Bị cáo Hoàng Xuân D có nhân thân xấu đã vi phạm pháp luật và bị xử lý nhưng không tu dưỡng rèn luyện bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội độc lập trong việc mua bán trái phép chất ma túy.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hướng xử lý:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nhận thức được việc làm của bản thân là nguy hiểm cho xã hội, đây là tình tiết được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều tại phiên tòa đề nghị áp dụng điều luật, mức hình phạt đối với bị cáo và xử lý vật chứng là có căn cứ phù hợp với nhận định của Tòa án.
Cần thiết phải xử lý nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Về vật chứng: Lượng ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong, 05 túi nilon màu trắng, 02 cân tiểu ly đây là vật cấm lưu hành mà bị cáo sử dụng vào hành vi phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động Samsung S10+ gắn sim số 0777.580.999 và 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro gắn sim số 0862.303.818 của bị cáo sử dụng vào hành vi phạm tội nên tịch thu phát mại sung công quỹ Nhà nước, còn sim điện thoại kèm theo không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 1.511.000đ thu của bị cáo Hoàng Xuân D trong đó có 1.011.000đ không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại bị cáo, thu của bị cáo số tiền 500.000₫ và thu của bị cáo Nguyễn Thế A số tiền 500.000đ để nộp ngân sách Nhà nước.
[6] Về hình phạt bổ sung không phạt tiền đối với các bị cáo.
[7] Về án phí bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Nguyễn Thế A và Hoàng Xuân D phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Thế A 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 16/12/2023.
Xử phạt: Hoàng Xuân D 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 16/12/2023.
Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong trong 04 phong bì số 8156/KL-KTHS ngày 19/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội.
Tịch thu tiêu hủy 05 túi nilon màu trắng, 02 cân tiểu ly, số sim 0777.580.999 và số sim 032.659.1xxx.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Samsung S10+ và 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro.
(Tình trạng các vật chứng trên như biên bản giao nhận vật chứng số 64 ngày 11/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Triều).
Buộc bị cáo Nguyễn Thế A phải nộp lại số tiền 500.000đ để nộp ngân sách Nhà nước.
Buộc bị cáo Hoàng Xuân D phải nộp lại số tiền 500.000đ để nộp ngân sách Nhà nước.
Trả lại cho bị cáo Hoàng Xuân D số tiền còn lại 1.011.000đ (Theo phiếu nhập kho ngày 25/01/2024; nhập TK 9911, gói niêm phong số 358 tại Kho bạc Nhà nước Đông Triều).
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Thế A và Hoàng Xuân D mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Dương Mạnh Chiến |
Bản án số 40/2024/HSST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 40/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thế A cùng đồng phạm bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự
